Từ xưa chư Phật, Bồ-tát
ra đời giáo hóa chúng sanh, với lòng bi-nguyện thâm-thiết đều muốn cho tất cả
thoát-ly cảnh giới triền phược khổ não, đồng hưởng cánh thanh tịnh an vui giải
thoát. Nhưng muốn thực hiện cảnh g
iới thanh tịnh an vui giải thoát, cốt yếu là mình phải đưọc thanh tịnh như trong kinh nói “TÙY KỲ TÂM TỊNH, TẮC PHẬT ÐỘ TỊNH”.
iới thanh tịnh an vui giải thoát, cốt yếu là mình phải đưọc thanh tịnh như trong kinh nói “TÙY KỲ TÂM TỊNH, TẮC PHẬT ÐỘ TỊNH”.
Sớ dĩ thân Phật rực rỡ,
cảnh Phật trang nghiêm cũng đều do công đức diệu dụng của bản tâm thanh tịnh
lưu xuất. Bản tâm ấy, chúng sanh sẵn có, cũng như chư Phật, không hai không
khác, nhưng vì từ lâu cứ mê chấp, đắm nhiễm theo trần duyên mà không hiển bày
được đó thôi.
Bộ Kinh “DUY MA CẬT”
này, tôn yếu hiển bày pháp môn Bất Nhị. Chính đó là phương tiện của Chư Phật,
Bồ Tát thị hiện chỉ rõ chỗ diệu dụng của bản tâm thanh tịnh, là PHÁP MÔN GIẢI
THOÁT BẤT KHẢ TƯ NGHỊ mà Ngài DUY MA CẬT lặng thinh, đức Văn Thù tán thán, hàng
Nhị thừa sững sốt, không thế lấy trí suy nghĩ phân biệt biết nỗi, không thể
dùng lời nói luận bàn đến được.
Giáo lý Tối Thượng Thừa
này thật siêu thắng, trong đời ít có, khó gặp. Nay thầy Thích Huệ Hưng gia tâm
phiên dịch ra quốc văn, vì thời cơ xứng hiệp, nên được nhân duyên xuất
bản.
Nhận thấy pháp Tối
Thưọng Thừa này rất lợi ích, nên tôi nhứt tâm tùy hỉ giới thiệu cùng các bạn tu
hành nào muốn tìm phương GIẢI THOÁT, muốn thực hiện cảnh giới an vui BẤT KHẢ TƯ
NGHỊ.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni Phật
GIÁC NGUYÊN PHẬT HỌC ÐƯỜNG
Mùa Hạ Năm Tân Mão – 1951
Sa môn : LÊ PHƯỚC BìNH
GIÁC NGUYÊN PHẬT HỌC ÐƯỜNG
Mùa Hạ Năm Tân Mão – 1951
Sa môn : LÊ PHƯỚC BìNH
LỜI NÓI ĐẦU
Kinh “DUY MA CẬT” cũng
có tên gọi : “Kinh BẤT KHẢ TƯ NGHỊ GIẢl THOÁT”. Kinh này nói rõ cảnh giới của
Ðại Bồ Tát chứng nhập.
Bồ Tát thườnng chẳng
những thị hiện thuận hành mà cũng lắm khi thị hiện nghịch hành để hóa độ chúng
sinh.
Ngài DUY MA CẬT chính là
vị Ðại Bồ Tát ở cõi Bất Ðộng, vì trợ duyên đức Thích Ca mà hiện thân cư sĩ đến
cõi ta bả này. Muốn hiển bản tánh “Bình Ðẳng Chơn Thật Không Hai” của chúng
sinh sẵn có, Ngài hiện thân có bịnh để chỉ bày các phưong pháp phá chấp : có,
không, thường, đoạn của Tiểu Thừa và phàm phu ngoại đạo.
Ðọc vào kinh ta nhận
thấy chẳng những hàng xuất gia mới thật hành được Phật đạo, mà Cư sĩ, Bà la môn
cho đến mọi tầng lớp dân chúng cũng đều thật hành được Phật dạo. Có thật hành
Phật đạo mới trở về bản tánh “bình đẳng không hai” và đầy đủ diệu dụng giải
thoát.
Ðạo Phật là đạo chú
trọng thật hành, không phải lý thuyết suông. Bộ Kinh DUY MA CẬT đây hiển rõ
rành mạch cả lý thuyết và chỗ thật hành cho đến thế nào là thân chứng. Càng
đọc, càng gẫm, càng thật hành, ta sẽ thấy đầy tánh cách từ bi vô ngại rộng lớn
bao la của tâm hồn lợi tha triệt để.
Ðời đang đắm chìm trong
biển khổ mênh mang, người muốn cứu đời chân chính, cần phải có phương pháp chân
chính cao siêu. Thấy sự lợi ích của kinh này hướng dẫn mọi người đi đến mục
đích cao cả, thoát hẳn muôn sự mê lầm đen tối của tâm hồn chấp trước, ích kỷ,
nhỏ hẹp và hành vi khổ lụy nhơn sinh, Dịch giả chẳng nệ gì chỗ hiểu chưa cùng
tột và hạnh đức chưa thân chứng đến cảnh giới “bất tư nghị” mà vội cống hiến
cho bạn đọc một pho sách chưa từng có.
Vậy có chỗ nào sơ sót
mong các bực cao minh phủ chính cho. Rất thâm tạ !
Dịch giả cẩn chí
LỆ NGÔN
I. Kinh này có phân ra
thượng, trung, hạ, 3 quyển, 14 phẩm. Nhưng tôi dịch đây chỉ để luôn một quyển
và số mục của các phẩm.
II. Về phẩm 11 và 111,
tôi có nêu tên các vị Thanh Văn, Bổ Tát trên mỗi đoạn cho dễ tìm khi quí vị
muốn xem.
III. Ở sau có phụ phần
chú thích danh từ. Phàm danh từ nào ở trước có giải rồi sau không giải
nữa.
Kinh này không phải là
kinh khóa tụng hàng ngày, nhưng nếu quí vị nào phát tâm trì tụng cũng được
nhiều lợi ích và công đức vô lượng, như trong phẩm “Thấy Phật A Súc”, phẩm
“Pháp cúng dường” và phẩm “Chúc lụy” có nói rõ. Khi tụng kinh này cũng phải y
theo nghi thức tụng niệm thường lệ, trước khai kinh, sau hồi hướng như tụng các
kinh khác vậy.
KINH DUY-MA-CẬT
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
KINH (1) DUY MA CẬT (2) SỞ THUYẾT
CŨNG GỌI
Kinh “BẤT KHẢ TƯ NGHỊ GIẢI THOÁT” (3)
CŨNG GỌI
Kinh “BẤT KHẢ TƯ NGHỊ GIẢI THOÁT” (3)
Đời Diêu Tần, ngài Tam
tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
I. PHẨM PHẬT QUỐC (4)
Chính tôi được nghe, một
thuở kia, đức Phật Thích Ca ở thành Tỳ Da Ly (5) nơi vườn cây Am La (6) cùng
tám nghìn chúng Ðại Tỳ Kheo, hai vạn hai nghìn Bồ Tát, là những vị có tiếng
tăm, đều đã thành tựu trí hạnh đại thừa, do nhờ oai thần của chư Phật lập nên.
Các Ngài làm bức thành hộ pháp, giữ gìn chánh pháp, diễn nói pháp âm rất oai
hùng, tự tại vô úy như sư tử rống (7) danh đồn xa khắp mười phương. Người đời
không cầu thỉnh mà các Ngài sẵn sàng làm bạn giúp cho an vui. Các Ngài xương
minh Tam bảo không dể dứt mất, hàng phục tất cả ma oán, ngăn dẹp các ngoại đạo
; sáu căn (8) ba nghiệp (9) đều đã thanh tịnh ; trọn lìa năm món che ngăn (10)
và mười điều ràng buộc (11). Tâm thường an trụ nơi lý vô ngại giải thoát ; niệm
định tổng trì (12) bình đẳng, biện tài thông suốt như suối tuôn không dứt. Các
hạnh Bồ thí, trì giớí, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ và sức phương
tiện lợi mình lợì người thảy đều đầy đủ. Ðã được đến bực vô sở đắc (13) mà
không khởi pháp nhẫn (vô sinh pháp nhẫn)(14), hay tùy thuận dìễn nói pháp luân
bất thối (15), khéo hiểu rõ chân tướng các pháp, thấu biết căn cơ chúng sanh,
oai đức bao trùm đại chúng(16), không còn sợ sệt chi cả.
Các Ngài dùng công đức
trí tuệ trau sửa lòng mình, lấy tướng tốt trang nghiêm thân hình, sắc tượng
dung nhan bực nhứt, bỏ hẳn tất cả trang sức tốt đẹp trong đời, danh tiếng cao
xa vượt hẳn núi Tu di (17), lòng tin bền chắc như kim cương, đem Pháp bảo soi
khắp, mưa nước cam lố, phát ra tiếng tăm đều là vi diệu bực nhứt.
Các Ngài đã thâm nhập lý
duyên khởi (18), dứt hết các tập khí kiến chấp sai lầm bên có bên không, diễn
nói các pháp không sợ sệt như sư tử rống, những lời giảng nói như sấm nổ, không
có hạn lượng và đã quá hạn lượng.
Các Ngài tự mình nhóm
góp rất nhiều Pháp bảo như Hải đạo sư (19), rõ nghĩa lý sâu mầu của các pháp,
biết rành hiện trạng qua lại trong các cảnh thú và hành vi tốt xấu trong tâm
niệm chúng sanh. Gần kề bực Phật tối tôn là đấng đầy đủ trí tuệ, tự tại, thập
lực (20), vô úy (21), thập bát bất cộng(22). Ngăn đóng tất cả cửa nẻo ác thú,
hiện thân trong năm đường(23) hóa độ chúng sanh. Làm vị Ðại Y Vương (24) khéo
trị lành các bịnh, đúng theo bịnh cho thuốc đều được công hiệu. Ðã thành tựu vô
lượng công đức, trang nghiêm thanh tịnh vô lượng cõi Phật. Người nào được nghe
danh thấy hình đều được lợi ích. Những hành động của các Ngài đều không uổng
phí, các công đức như thế, đã hoàn toàn viên mãn.
Danh hiệu các Ngài là
Ðẳng Quán Bồ Tát, Bất Ðẳng Quán Bồ Tát, Ðẳng Bất Ðẳng Quán Bồ Tát, Ðịnh Tự Tại
Vương Bồ Tát, Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát, Pháp Tướng Bồ Tát, Quang Tướng Bồ Tát,
Quang Nghiêm Bồ Tát, Ðại Nghiêm Bồ Tát, Bảo Tích Bồ Tát, Biện Tích Bồ Tát, Bảo
Thu Bồ Tát, Bảo Ấn Bồ Tát, Thường Cử Thủ Bồ Tát, Thường Hạ Thủ Bồ Tát, Thường
Thảm Bồ Tát, Hỷ Căn Bồ Tát, Hỷ Vương Bồ Tát, Biện âm Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ
Tát, Chấp Bảo Cự Bồ Tát, Bảo Dõng Bồ Tát, Bảo Kiến Bồ Tát, Ðế Võng Bồ Tát, Minh
Võng Bồ Tát, Vô Duyên Quán Bồ Tát, Huệ Tích Bồ Tát, Bảo Thắng Bồ Tát, Thiên
Vương Bồ Tát, Hoại Ma Bồ Tát, Ðiễn Ðức Bồ Tát, Tự Tại Vương Bồ Tát, Công Ðức
Tướng Nghiêm Bồ Tát, Sư Tử Hống Bồ Tát, Lôi âm Bồ Tát, Sơn Tướng Kích Âm Bồ
Tát, Hương Tượng Bồ Tát, Bạch Hương Tượng Bồ Tát, Thuờng Tinh Tấn Bồ Tát, Bất
Hưu Tức Bồ Tát, Diệu Sanh Bồ Tát, Hoa Nghiêm Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát, Ðắc
Ðại Thế Bồ Tát, Phạm Võng Bồ Tát, Bảo Trượng Bồ Tát, Vô Thắng Bồ Tát, Nghiêm Ðộ
Bồ Tát, Kim Kế Bồ Tát, Châu Kế Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương
Tử Bồ Tát, cả thay như thế ba vạn hai nghìn Ngài.
Lại có một vạn vị Thi
Khi (25), Phạm Thiên Vương từ Tứ thiên hạ (26) khác đến chỗ Phật nghe Pháp. Lại
có một vạn hai nghìn vị Thiên đế cũng từ Tứ thiên hạ khác đến trong pháp hội.
Các hàng chư Thiên có oai lực lớn, cùng Long thần, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu
la, Khẩn na la, Ma hầu la đà (27) v.v. . . đều đến trong pháp hội. Lại có các
vị Tỳ kheo (28) , Tỳ kheo ni, ưu bà tắc (29), ưu bà di (30) cũng đến trong Pháp
hội.
Bấy gỉờ đức Phật nói Pháp cho vô lượng trăm nghìn đại chúng đông đảo cung kính vây quanh đấy, ví như núi chúa Tu di hiển bày nơi bể cả. Ngài ngồi yên trên tòa Sư tử (31) trang nghiêm bằng các thứ báu, oai đức che trùm tất cả đại chúng. Khi ấy trong thành Tỳ Da Ly có Trưỏng giả tử(32) tên là Bảo Tích với 500 vị Trưởng giả tử đồng cầm lọng bảy báu(33) đi đến chỗ Phật cung kính đảnh lễ đầu mặt tiếp chơn, rối mỗi vị đều đem lọng báu của mình hợp nhau cúng dường Phật. Do oai đức của Phật nên khiến các lọng báu ấv hiệp thành một cây trùm khắp cõi Tam thiên đại thiên thế thế giới (34), mà tướng rộng dài của thế giới đều hiện đủ trong đó.
Bấy gỉờ đức Phật nói Pháp cho vô lượng trăm nghìn đại chúng đông đảo cung kính vây quanh đấy, ví như núi chúa Tu di hiển bày nơi bể cả. Ngài ngồi yên trên tòa Sư tử (31) trang nghiêm bằng các thứ báu, oai đức che trùm tất cả đại chúng. Khi ấy trong thành Tỳ Da Ly có Trưỏng giả tử(32) tên là Bảo Tích với 500 vị Trưởng giả tử đồng cầm lọng bảy báu(33) đi đến chỗ Phật cung kính đảnh lễ đầu mặt tiếp chơn, rối mỗi vị đều đem lọng báu của mình hợp nhau cúng dường Phật. Do oai đức của Phật nên khiến các lọng báu ấv hiệp thành một cây trùm khắp cõi Tam thiên đại thiên thế thế giới (34), mà tướng rộng dài của thế giới đều hiện đủ trong đó.
Lại nữa, các núi
Tu di, Mục chơn lân dà , Ðại mục chơn lân đà, Tuyết sơn, Hương sơn, Bảo sơn,
Kim sơn, Hắc sơn, Thiết vi, Ðại thiết vi bể lớn, sông, rạch, dòng ngòi, nguốn
suối, cũng với mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, thiên cung, long cung và cùng
các vị tôn thần, nơi cõi Tam thiên đại thiên thế giỡi này đều hiện trong lọng
bảy báu, và chư Phật trong 10 phương, chư Phật đang nói pháp, cũng hiện trong
lọng bảy báu ấy.
Khi đó tất cả Ðại chúng
thấy thần lực của Phật đều khen ngợi chưa từng có, chấp tay làm lễ, ngắm nhìn
dung nhan Phật mắt không hề nháy. Trưởng giả tử Bảo Tích liền ở trước Phật đọc
bài kệ khen rằng :
Mắt trong, dài rộng như
sen xanh,
Tâm sạch đã tột các thiền định,
Lâu chứa tịnh nghiệp nói không cùng,
Dùng tịch độ chúng (35) nên cúi lạy.
Ðã thấy Ðại thánh dùng thần biến,
Khắp híện mười phương không lường cõi,
Trong đấy các Phật diễn nói pháp,
Nơi đây tất cả đều thấy nghe.
Pháp lực của Phật vượt quần sanh
Thường dùng Pháp tài thí tất cả,
Hay khéo phân biệt các Pháp tướng,
Ðối đệ nhứt nghĩa (36) mà không động.
Ðã được tự tại cùng các Pháp
Cho nên cúi đầu lễ Pháp vương.
Nói Pháp chẳng có cũng chẳng không
Vì do nhân duyên các Pháp sanh,
Không ta, không tạo, không thọ giả,
Những việc lành dữ cũng chẳng mất.
Trước tiên hàng ma nơi Phật thọ (37)
Ðặng Cam lồ diệt (38) thành đạo giác,
Ðã không tâm ý, không thọ hành (39)
Mà xô dẹp hết các ngoại đạo.
Ba lần chuyển Pháp (40) cõi đại thiên,
Pháp ấy lâu nay thường thanh tịnh,
Trời người đắc đạo đó là chứng,
Tam bảo vì thế hiện trong đời.
Dùng Pháp mầu này độ chúng sanh
Thọ rồi không lui, thường vắng lặng,
Khỏi già bịnh chết đấng Y Vương,
Lạy ngôi Pháp hải (41) đức không lường.
Khen chê chẳng động như Tu di
Ðồng bực thương xót kẻ lành dữ,
Tâm hạnh bình dầng như hư không,
Nghe đấng Nhơn bảo (42) ai chẳng kính.
Nay dâng Thế Tôn lọng mọn này
Cõi Tam thiên tôi hiện trong đó,
Thiên cung, Long thần kia nương ở,
Càn thát cả thảy với Dạ xoa.
Mọi vật trong đời đều thấy rõ,
Vì thương Phật hiện tướng biến này,
Thấy việc ít có chúng khen ngợi,
Nay con lạy đấng Tam giới tôn (43)
Ðại thánh chỗ nương của mọi loài,
Lòng sạch trong đó thảy vui vẻ,
Ðều thấy Thế Tôn ở trước mình,
Ðó là thần lực Pháp bất cộng. (44)
Phật dùng một tiếng diễn nói Pháp,
Chúng sanh tùy loại thảy đặng hiểu,
Ðều cho rằng Phật đồng tiếng mình,
Ðó là thần lực Pháp bất cộng.
Phật dùng một tiếng diễn nói Pháp,
Chúng sanh chỗ hiểu tùy mỗi hạng,
Khắp được thọ hành đều lợi ích,
Ðó là thần lực Pháp bất cộng.
Phật dùng một tiếng diễn nói Pháp,
Có người kinh sợ hoặc vui mừng,
Có kẻ dứt nghi hoặc nhàm chán,
Ðó là thần lực Pháp bất cộng.
Lạy đấng Thập lực đại tinh tấn,
Lạy đấng đã đặng không chỗ sợ,
Lạy đấng trụ nơi Pháp bất cộng,
Lạy đấng Ðạo sư (45) của muôn loài.
Lạy đấng hay dứt mọi kiết phược(46)
Lạy đấng đã đến nơi bờ kia,
Lạy đấng hay vượt các thế gian,
Lạy đấng trọn lìa đường sanh tử.
Biết hết chúng sanh tướng đến lui
Khéo nói các Pháp được giải thoát,
Như hoa sen trong đời chẩng nhiễm,
Thường khéo vào nơi hạnh không tịch.(47)
Tâm sạch đã tột các thiền định,
Lâu chứa tịnh nghiệp nói không cùng,
Dùng tịch độ chúng (35) nên cúi lạy.
Ðã thấy Ðại thánh dùng thần biến,
Khắp híện mười phương không lường cõi,
Trong đấy các Phật diễn nói pháp,
Nơi đây tất cả đều thấy nghe.
Pháp lực của Phật vượt quần sanh
Thường dùng Pháp tài thí tất cả,
Hay khéo phân biệt các Pháp tướng,
Ðối đệ nhứt nghĩa (36) mà không động.
Ðã được tự tại cùng các Pháp
Cho nên cúi đầu lễ Pháp vương.
Nói Pháp chẳng có cũng chẳng không
Vì do nhân duyên các Pháp sanh,
Không ta, không tạo, không thọ giả,
Những việc lành dữ cũng chẳng mất.
Trước tiên hàng ma nơi Phật thọ (37)
Ðặng Cam lồ diệt (38) thành đạo giác,
Ðã không tâm ý, không thọ hành (39)
Mà xô dẹp hết các ngoại đạo.
Ba lần chuyển Pháp (40) cõi đại thiên,
Pháp ấy lâu nay thường thanh tịnh,
Trời người đắc đạo đó là chứng,
Tam bảo vì thế hiện trong đời.
Dùng Pháp mầu này độ chúng sanh
Thọ rồi không lui, thường vắng lặng,
Khỏi già bịnh chết đấng Y Vương,
Lạy ngôi Pháp hải (41) đức không lường.
Khen chê chẳng động như Tu di
Ðồng bực thương xót kẻ lành dữ,
Tâm hạnh bình dầng như hư không,
Nghe đấng Nhơn bảo (42) ai chẳng kính.
Nay dâng Thế Tôn lọng mọn này
Cõi Tam thiên tôi hiện trong đó,
Thiên cung, Long thần kia nương ở,
Càn thát cả thảy với Dạ xoa.
Mọi vật trong đời đều thấy rõ,
Vì thương Phật hiện tướng biến này,
Thấy việc ít có chúng khen ngợi,
Nay con lạy đấng Tam giới tôn (43)
Ðại thánh chỗ nương của mọi loài,
Lòng sạch trong đó thảy vui vẻ,
Ðều thấy Thế Tôn ở trước mình,
Ðó là thần lực Pháp bất cộng. (44)
Phật dùng một tiếng diễn nói Pháp,
Chúng sanh tùy loại thảy đặng hiểu,
Ðều cho rằng Phật đồng tiếng mình,
Ðó là thần lực Pháp bất cộng.
Phật dùng một tiếng diễn nói Pháp,
Chúng sanh chỗ hiểu tùy mỗi hạng,
Khắp được thọ hành đều lợi ích,
Ðó là thần lực Pháp bất cộng.
Phật dùng một tiếng diễn nói Pháp,
Có người kinh sợ hoặc vui mừng,
Có kẻ dứt nghi hoặc nhàm chán,
Ðó là thần lực Pháp bất cộng.
Lạy đấng Thập lực đại tinh tấn,
Lạy đấng đã đặng không chỗ sợ,
Lạy đấng trụ nơi Pháp bất cộng,
Lạy đấng Ðạo sư (45) của muôn loài.
Lạy đấng hay dứt mọi kiết phược(46)
Lạy đấng đã đến nơi bờ kia,
Lạy đấng hay vượt các thế gian,
Lạy đấng trọn lìa đường sanh tử.
Biết hết chúng sanh tướng đến lui
Khéo nói các Pháp được giải thoát,
Như hoa sen trong đời chẩng nhiễm,
Thường khéo vào nơi hạnh không tịch.(47)
Lúc đó Trưởng giả tử Bảo
Tích đọc bài kệ tán thán xong, bạch Phật rằng : “'Bạch Thế Tôn ! Năm trăm vị
Trưởng giả tử nầy đều đã phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác nguyện nghe
cõi Phật thanh tịnh, cúi mong Thế Tôn dạy cho những hạnh của Bồ Tát được Tịnh
độ (quốc độ thanh tịnh).”
Phật bảo : “Hay thay Bảo
Tích ! Ông lại vì các vị Bồ Tát mà hỏi Như Lai những hạnh được Tịnh độ, vậy hãy
lắng nghe chín chắn, suy nghĩ kỹ nhớ lấy, ta sẽ nói cho ông rõ”.
Lúc ấy Bảo Tích cũng 500
vị Trưởng giả tử vâng lời Phật dạy, cung kính lóng nghe.
Phật dạy rằng : “Này Bảo
Tich ! Tất cả chúng sanh là cõi Phật của Bồ Tát. Vì sao ? – Bồ Tát tùy chỗ giáo
hóa chúng sanh mà lãnh lấy cõi Phật (Tịnh độ); tùy chỗ điều phục chúng sanh mà
lãnh lấy cõi Phật ; tùy chúng sanh ưng theo quốc độ nào vào trí tuệ của Phật mà
lãnh lấy cõi Phật ; tùy chúng sanh ưng theo quốc độ nào phát khởi căn tánh Bồ
Tát mà lãnh lấy cõi Phật. Vì sao thế ? – Vì Bồ Tãt lãnh lấy cõi Phật thanh tịnh
đều vì muốn lợi ích chúng sanh. Ví như : Có người muốn xây dựng cung nhà nơi
khoảng đất trống, tùy ý được thành công, nếu xây dựng giữa hư khỏng quyết không
thành tựu được ; Bồ Tát cũng thế, vì thành tựu chúng sanh nên nguyện lãnh lấy cõi
Phật – Nguyện lãnh lấy cõi Phật chẳng phải ở nơi rỗng không vậy.
Bảo Tích, ông nên biết !
- Trực tâm (49) là Tịnh dộ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh không
dua vạy, sanh sang nước dó. Thâm tâm (50) là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát
thành Phật, chúng sanh đầy đủ công đức sanh sang nước đó. Bồ Ðề tâm (51) là
Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh có tâm đại thừa sanh
sang nước đó. Bố thí là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh
hay thí xả tất cả mọi vật sanh sang nước đó. Trì giớí là Tịnh độ của Bồ Tát ;
khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh tu mười điều lành (52), hạnh nguyện đầy đủ,
sanh sang nước đó. Nhẫn nhục là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật,
chúng sanh đủ 32 tướng tốt (53) trang nghiêm sanh sang nước đó. Tinh tiến là
Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh siêng tu mọi công đức
sanh sang nước đó. Thiền định là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật,
chúng sanh biết thu nhiếp tâm chẳng loạn sanh sang nước đó. Trí tuệ là Tịnh độ
của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh được chánh định sanh sang nước
đó. Tứ vô lượng tâm(54) là Tịnh độ của Bồ Tát ; Khi Bồ Tát thành Phật, chúng
sanh thành tựu từ, bi, hỷ, xả sanh sang nước đó. Tứ nhiếp Pháp (55) là Tịnh độ
của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh được giải thoát sanh sang nước
đó. Phương tiện là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh khéo
dùng đặng phương tiện không bị ngăn ngại ở các pháp, sanh sang nước dó. Ba mươi
bảy phẩm trợ đạo (56) là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật chúng sanh
đầy đủ niệm xứ, chánh cần, thần túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, bát chánh
đạo, sanh sang nước đó. Hồi hướng tâm (57) là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát
thành Phật, được cõi nước đầy đủ tất cả công đức. Nói Pháp trừ tám nạn là Tịnh
độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, cõi nước không có ba đường ác (58) và
tám nạn (59) . Tự mình giữ giới hạnh không chê chỗ kém khuyết của người khác là
Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, cõi nưỡc không có tên phạm giới cấm.
Mười điều lành là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh sống
lâu, giàu to, phạm hạnh (60), lời nói chắc thật, thường dùng lời dịu dàng,
quyến thuộc không chia rẻ, khéo giải hòa việc đua tranh kiện cáo, lời nói có
lợi ich, không ghét không giận, thấy biết chân chánh sanh sang nước đó.
Như thế, Bảo Tích ! Bồ
Tát tùy chỗ trực tâm mà hay phát hạnh, tùy chỗ phát hạnh mà được thâm tâm, tùy
chỗ thâm tâm mà ý được điều phục, tùy chỗ ý được điều phục mà làm được như lời
nói, tùy chỗ làm được như lời nói mà hay hồi hướng, tùy chỗ hồi hướng mà có
phương tiện, tùy chỗ có phương tiện mà thành tựu chúng sanh, tùy chỗ thành tựu
chúng sanh mà cõi Phật được thanh tịnh, tùy chỗ cõi Phật thanh tịnh mà nói Pháp
được thanh tịnh, tùy chỗ nói Pháp thanh tịnh mà trí tuệ được thanh tịnh, tùy
chỗ trí tuệ thanh tịnh mà tâm thanh tịnh, tùy chỗ tâm thanh tịnh mà tất cả công
đức đều thanh tịnh. Cho nên, Bảo Tích này !
Bồ Tát nếu muốn được cõi Phật thanh tịnh, nên làm cho tâm thanh tịnh; tùy chỗ Tâm thanh tịnh mà cõi Phật được thanh tịnh.
Bồ Tát nếu muốn được cõi Phật thanh tịnh, nên làm cho tâm thanh tịnh; tùy chỗ Tâm thanh tịnh mà cõi Phật được thanh tịnh.
Lúc ấy, ông Xá Lợi Phất
nương oai thần của Phật mà nghĩ rằng : “Nếu tâm Bồ Tát thanh tịnh chắc cõi Phật
phải được thanh tịnh, vậy Thế Tôn ta khi trước làm Bồ Tát tâm ý lẽ nào không
thanh tịnh, sao cõi Phật này không thanh tịnh như thế ?”.
Phật biết ông suy nghĩ
vậy liền bảo rằng :
– Ý ông nghĩ sao ? Mặt trời, mặt trăng há không thanh tịnh sáng suốt ư, sao người mù không thấy ?
– Ý ông nghĩ sao ? Mặt trời, mặt trăng há không thanh tịnh sáng suốt ư, sao người mù không thấy ?
– Bạch Thế Tôn ! Chẳng
phải thế. Ðó là tại người mù, không phảỉ lỗi ở mặt trời và mặt trăng.
– Xá Lợí Phất ! Cũng
thế, bởi chúng sanh do tội chướng nên không thấy được cõi nước của Như Lai
thanh tịnh trang nghiêm, chớ không phải lỗi ở Như Lai – Này Xá Lợi Phất ! Cõi
nước của ta đây vẫn thanh tịnh mà tại ông không thấy đó thôi.
Bấy giờ ông Loa Kế Phạm
Vương thưa với ông Xá Lợi Phất rằng :
– Ngài chớ nghĩ như thế, mà cho cõi Phật đây là không thanh tịnh. Vì sao ? – Vì tôi thấy cõi nước của Phật Thích Ca Mâu Ni thanh tịnh, ví như cung trời Tự Tại (61).
– Ngài chớ nghĩ như thế, mà cho cõi Phật đây là không thanh tịnh. Vì sao ? – Vì tôi thấy cõi nước của Phật Thích Ca Mâu Ni thanh tịnh, ví như cung trời Tự Tại (61).
Ông Xá Lợí Phất nói
:
– Sao tôi thấy cõi này toàn gò nỗng, hám hố, chông gai, sỏi sạn, đất đá, núi non, nhơ nhớp dẫy đầy như thế ?
– Sao tôi thấy cõi này toàn gò nỗng, hám hố, chông gai, sỏi sạn, đất đá, núi non, nhơ nhớp dẫy đầy như thế ?
Ông Loa Kế Phạm Vương
thưa rằng :
– Ðấy là do tâm của Ngài có cao thấp không nương theo trí tuệ của Phật nên thấy cõi này không thanh tịnh đó thôi – Thưa Ngài Xá Lợi Phất ! Bồ Tát đối với tất cả chúng sanh thảy đều bình đẳng, thâm tâm thanh tịnh y theo trí tuệ của Phật thì mới thấy được cõi Phật này thanh tịnh.
– Ðấy là do tâm của Ngài có cao thấp không nương theo trí tuệ của Phật nên thấy cõi này không thanh tịnh đó thôi – Thưa Ngài Xá Lợi Phất ! Bồ Tát đối với tất cả chúng sanh thảy đều bình đẳng, thâm tâm thanh tịnh y theo trí tuệ của Phật thì mới thấy được cõi Phật này thanh tịnh.
Khi ấy Phật lấy ngón
chơn nhấn xuống đất, tức thì cõi Tam thiên đại thiên thế giới liền hiện ra bao
nhiêu trăm nghìn thứ trân bảo trang nghiêm rực rỡ, như cõi Vô Lượng Công Ðức
Bảo Trang Nghiêm của Phật Bảo Trang Nghiêm. Tất cả Ðại chúng ngợi khen chưa
từng có và đều thấy mình ngồi trên tòa sen báu.
Phật bảo Xá Lợi Phất
:
– Ông hãy xem cõi Phật, đây trang nghiêm thanh tịnh.
– Ông hãy xem cõi Phật, đây trang nghiêm thanh tịnh.
Ông Xá Lợi Phất thưa
:
– Dạ, bạch Thế Tôn ! Từ trước dến giờ con chưa từng thấy, chưa từng nghe. Nay cõi nước của Phật đều hiện rõ trang nghiêm thanh tịnh.
– Dạ, bạch Thế Tôn ! Từ trước dến giờ con chưa từng thấy, chưa từng nghe. Nay cõi nước của Phật đều hiện rõ trang nghiêm thanh tịnh.
Phật bảo :
– Này Xá Lợi Phất ! Cõi nước của ta thường thanh tịnh như thế ! Nhưng vì muốn độ những kẻ căn cơ hạ liệt nên thị hiện ra cõi đầy nhơ nhớp xấu xa bất tịnh đó thôi. Ví như Chư Thiên đồng dùng một thứ bát bằng ngọc báu để ăn, nhưng tùy phước đức của mỗi vị mà sắc cơm có khác. Như thế, Xá Lợi Phất ! Nếu tâm người thanh tịnh, sẽ thấy cõi này công đức trang nghiêm.
– Này Xá Lợi Phất ! Cõi nước của ta thường thanh tịnh như thế ! Nhưng vì muốn độ những kẻ căn cơ hạ liệt nên thị hiện ra cõi đầy nhơ nhớp xấu xa bất tịnh đó thôi. Ví như Chư Thiên đồng dùng một thứ bát bằng ngọc báu để ăn, nhưng tùy phước đức của mỗi vị mà sắc cơm có khác. Như thế, Xá Lợi Phất ! Nếu tâm người thanh tịnh, sẽ thấy cõi này công đức trang nghiêm.
Trong khi Phật hiện ra
cõi nước trang nghiêm thanh tịnh, 500 vị Trưởng giả tử do ông Bảo Tích dắt đến
đều chứng được vô sanh Pháp nhẫn, tám vạn bốn nghìn người phát tâm Vô Thượng
Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Bấy giờ Phật thâu nhiếp
thần túc (62) lại, cõi nước trở thành như xưa. Ba vạn hai nghìn người và Trời
cầu Thanh văn thừa đều nhận rõ các Pháp hữu vi (63) là vô thường, xa lìa trần
cấu (64) đặng pháp nhãn thanh tịnh (65), tám nghìn vị Tỳ kheo không còn chấp
thọ các pháp, kiết lậu (66) đã hết, tâm ý được giải thoát.
Chú thích của phẩm
I
1. Kinh: Nói đủ là “Khế
kinh”, nghĩa là “pháp thường” khế hiệp chơn lý cùng khế hiệp căn cơ chúng
sanh.
2. Duy Ma Cật: Tên một
vị Trưởng giả ở thành Tỳ Da Ly, tàu dịch là “Tịnh Danh”.
3. Bất khả tư nghị giải
thoát: Là pháp môn giải thoát tự tại vô ngại không thể nghĩ bàn. Hai chữ “Giải
thoát” đây là xa lìa tất cả phiền não nghiệp chướng khổ lụy, cứu cánh viên mãn
tự tại vô ngại, không phải như hàng Nhị thừa giải thoát sanh tử mà còn chướng
ngại với cảnh pháp... Xem phẩm Bất khả tư nghị sau thời rõ.
4. Phật quốc: Cõi nước
của Phật. Như Tây phương Tịnh độ là cõi nước của Phật A Di Ðà, Ta bà là cõi
nước của Phật Thích Ca.
5. Tỳ Da Ly: Tàu dịch là
Quảng Nghiêm, nghĩa là thành này châu vi rộng lớn rất trang nghiêm, tốt đẹp, ở
về Trung Ấn Ðộ.
6. Am La : Tàu dịch là
“nan phân biệt” nghĩa là thứ trái cây này từ khi còn sống đến khi chín chỉ có
một màu xanh nên khó phân biệt được trái nào sống trái nào chín.
7. Sư tử rống: dụ Phật,
Bồ Tát thuyết pháp tự tại không sợ sệt, lại làm cho tất cả phiền não mê tánh
của chúng sanh đều tiêu trừ, ví như sư tử rống lên một tiếng thì tất cả các thú
đều khiếp sợ chạy trốn .
8. Sáu căn : Mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân, ý.
9. Ba nghiệp: 1)Thân
nghiệp, 2) Khẩu nghiệp, 3) Ý nghiệp.
10. Năm món che
ngăn:
1) Tham dục ;
2) Sân nhuế ;
3) Thùy miên: Tâm hôn trầm không làm chi được;
4) Trạo hối: Trong tâm có sự ăn năn xao động ;
5) Nghi pháp : Ðối với việc gì cũng mờ ám dụ dự không quyết đoán.
Năm món này hay che đậy chơn tánh và làm cho các pháp lành không phát khởi hiển lộ được.
1) Tham dục ;
2) Sân nhuế ;
3) Thùy miên: Tâm hôn trầm không làm chi được;
4) Trạo hối: Trong tâm có sự ăn năn xao động ;
5) Nghi pháp : Ðối với việc gì cũng mờ ám dụ dự không quyết đoán.
Năm món này hay che đậy chơn tánh và làm cho các pháp lành không phát khởi hiển lộ được.
11. Mười điều ràng
buộc:
1) Vô tàm : có tội lỗi mà không biết hổ :
2) Vô quý : có tội lỗi người khác biết được mà không thẹn.
3) Tật : thấy người hiền đức giàu sang sanh lòng ghen ghét;
4) Xan : bỏn sẻn không Bố thí;
5) Hối: ăn năn những tội lỗi đã làm;
6) Thùy miên: hôn mê không tỉnh sát được thâm tâm;
7) Ðiệu cử : Tâm niệm xao động;
8) Hôn trầm : thần thức hôn mê không rõ biết chi cả;
9) Sân hận : đối trước nghịch cảnh sanh tâm giận dũi;
10) Phú : che dấu tội ác.
1) Vô tàm : có tội lỗi mà không biết hổ :
2) Vô quý : có tội lỗi người khác biết được mà không thẹn.
3) Tật : thấy người hiền đức giàu sang sanh lòng ghen ghét;
4) Xan : bỏn sẻn không Bố thí;
5) Hối: ăn năn những tội lỗi đã làm;
6) Thùy miên: hôn mê không tỉnh sát được thâm tâm;
7) Ðiệu cử : Tâm niệm xao động;
8) Hôn trầm : thần thức hôn mê không rõ biết chi cả;
9) Sân hận : đối trước nghịch cảnh sanh tâm giận dũi;
10) Phú : che dấu tội ác.
12. Niệm định tổng trì:
Niệm tức là Tuệ; Tổng Trì: gồm nhiếp tất cả các pháp. Trong định gồm có tuệ,
trong tuệ gồm có định gọi là niệm định tổng trì.
13. Vô sở đắc: Là đối
với hữu sở đắc mà nối. Nghĩa là không còn trụ trước một pháp nào cả, dầu trí
chứng và cảnh chứng cũng không thấy có.
14. Vô sanh pháp nhẫn:
Vô sanh tức là không sanh không diệt. Nhẫn có nghĩa là tin nhận giữ gìn; là nói
dùng trí vô lậu an trú trong thể chơn lý bất sanh bất diệt, tâm không lay động.
Trong “Ðại Trí Ðộ luận”, quyển 50 nói : “Ðối thật tướng vô sanh diệt của các
pháp, tin nhận thông suốt, không ngăn ngại, không thối lui, gọi là Vô sanh
nhẫn”.
15. Pháp luân bất thối :
Phật Bồ Tát thuyết pháp gọi là chuyển pháp luân. Các bậc Bồ Tát nghe pháp Phật
dạy, đạo niệm càng thêm tăng tấn gọi là bất thối (không lui). Lại các bậc Bồ
Tát đã chứng được “bất thối” rồi, đem pháp ấy dạy cho chúng sanh để cho được
bất thối, nên gọi là chuyển pháp luân bất thối .
16. Ðại chúng: là một
nhóm người đông. Trong những thời thuyết pháp của Phật, trừ Phật ra còn bao
nhiêu bậc Hiền Thánh đều gọi là đại chúng. Chúng Tăng theo Phật tu học cũng gọi
là Ðại chúng.
17. Tu Di: Tàu dịch là
Diệu Cao, núi này thuần bằng bốn chất báu: vàng: bạc, lưu ly, pha lê rất xinh
đẹp nên gọi là Diệu, Cao hơn tất cả núi khác nên gọi rằng Cao.
18. Lý Duyên khởi: Tất
cả các pháp đều từ nơi các duyên nhóm họp mà sanh khởi. Vì tỏ ngộ lý duyên
khởi, nhận rõ các pháp không thật có, như huyễn hóa nên chẳng chấp có, nhưng
các pháp là do duyên sanh, không phải hẳn là không, nên chẳng chấp không. Có
không đều lìa, mới là thâm nhập lý duyên khởi.
19. Hải đạo sư: Là nguời
rất rành giỏi đường biển, làm thầy hướng đạo dắt dẫn các kẻ thương nhân vào
biển để tìm ngọc báu không sợ lạc đàng. Dụ cho Phật và Bồ Tát là bực dắt dẫn
chúng sanh đi vào chánh đạo không sai lạc.
20. Thập lực: Mười trí
lực của Phật. Trí lực của Phật
1) Biết rõ những điều hợp lý và trái lý.
1) Biết rõ những điều hợp lý và trái lý.
2) Biết rõ nhơn quả
nghiệp báo của chúng sanh trongng ba đời.
3) Biết rõ các pháp
thiền định giải thoát tam muội.
4) Biết rõ tùng bực cao
thấp các căn tánh của chúng sanh.
5) Biết rõ những ưa muốn
sai khác của chúng sanh.
6) Biết rõ tất cả những
cảnh giới sai khác của chúng sanh trong thế gian.
7) Biết rõ chỗ đi đến
của tất cả phàm phu, Hiền Thánh thế gian và xuất thế gian.
8) Biết rõ tánh danh
khổ, vui, thọ, yễu của tất cả chúng sanh.
9) Biết rõ sự sống chết
qua lại các kiếp trước của tất cả chúng sanh, và vô lậu Niết bàn của các Hiền
Thánh.
10) Tự biết mình đã dứt
hết nghiệp hoặc tập khí, không còn sanh tử triền phược nữa.
21. Vô úy: Bốn món vô úy
:
1) Nhứt thế trí: hiểu biết tất cả pháp thế gian và xuất thế gian;
2) Lậu tận: hoặc nghiệp sanh tử đều biết hết;
3) Thuyết chướng đạo: nói pháp ma ngoại là chướng thánh đạo;
4) Thuyết tận khổ đạo: nói những đạo pháp có thế diệt hết các khổ.
Bốn điều này Phật đối giữa Ðại chúng các hàng Thiên ma, Phạm thiên, Sa môn, Bà la môn, nói một cách tự tại không sợ ai, không ai nói đuợc nên gọi là “Vô úy”.
1) Nhứt thế trí: hiểu biết tất cả pháp thế gian và xuất thế gian;
2) Lậu tận: hoặc nghiệp sanh tử đều biết hết;
3) Thuyết chướng đạo: nói pháp ma ngoại là chướng thánh đạo;
4) Thuyết tận khổ đạo: nói những đạo pháp có thế diệt hết các khổ.
Bốn điều này Phật đối giữa Ðại chúng các hàng Thiên ma, Phạm thiên, Sa môn, Bà la môn, nói một cách tự tại không sợ ai, không ai nói đuợc nên gọi là “Vô úy”.
22. Thập bát bất cọng:
Mười tám (18) Pháp bất cọng này chỉ có Phật chứng đặng mà chẳng chung đồng với
hàng Nhị thừa và Bồ Tát.
1) Thân không lỗi.
2) Miệng không lỗi.
3) Niệm không lỗi.
4) Không có tâm tuởng khác.
5) Không có tâm bất định.
6) Không có tâm không biết.
7) Sự muốn không giảm.
8) Tinh tấn không giảm.
9) Niệm không giảm.
10) Huệ không giảm.
11) Giải thoát không giảm.
12) Giải thoát tri kiến không giảm.
13) Tất cả thân nghiệp theo trí tuệ mà hành động.
14) Tất cả khẩu nghiệp theo trí tuệ mà hành động.
15) Tất cả ý nghiệp theo trí tuệ mà hành động.
16) Trí tuệ biết đời vị lai không ngại.
17) Trí tuệ biết đời quá khứ không ngại.
18) Trí tuệ biết đời hiện tại không ngại.
1) Thân không lỗi.
2) Miệng không lỗi.
3) Niệm không lỗi.
4) Không có tâm tuởng khác.
5) Không có tâm bất định.
6) Không có tâm không biết.
7) Sự muốn không giảm.
8) Tinh tấn không giảm.
9) Niệm không giảm.
10) Huệ không giảm.
11) Giải thoát không giảm.
12) Giải thoát tri kiến không giảm.
13) Tất cả thân nghiệp theo trí tuệ mà hành động.
14) Tất cả khẩu nghiệp theo trí tuệ mà hành động.
15) Tất cả ý nghiệp theo trí tuệ mà hành động.
16) Trí tuệ biết đời vị lai không ngại.
17) Trí tuệ biết đời quá khứ không ngại.
18) Trí tuệ biết đời hiện tại không ngại.
23. Năm đường : Trời,
người, ngạ quỉ, súc sanh, địa ngục.
24. Ðại y vương: Thầy thuốc trị bịnh giỏi hơn các Thầy thuốc khác. Ðức Phật hay tùy thuận căn cơ chúng sanh, khéo hóa độ, khiến xa lìa tất cả khổ não, như ông Thầy thuốc hay khéo tịi lành các bịnh nhơn nên gọi Phật là “Ðại y vương”.
24. Ðại y vương: Thầy thuốc trị bịnh giỏi hơn các Thầy thuốc khác. Ðức Phật hay tùy thuận căn cơ chúng sanh, khéo hóa độ, khiến xa lìa tất cả khổ não, như ông Thầy thuốc hay khéo tịi lành các bịnh nhơn nên gọi Phật là “Ðại y vương”.
25. Thi khí : Tên vị vua
cõi trời Ðại Phạm Thiên, ở từng trời thứ ba cõi sơ thiên của Sắc giới.
26. Tứ thiên hạ: Bốn
châu thiên hạ.
1) Ðông thắng thần châu;
2) Nam thiệm bộ châu;
3) Tây ngưu hóa châu;
4) Bắc cu lô châu.
1) Ðông thắng thần châu;
2) Nam thiệm bộ châu;
3) Tây ngưu hóa châu;
4) Bắc cu lô châu.
27. Thiên, long thẩn
v.v... : Tục gọi là Thiên, Long Bát bộ.
1) Thiên : chư Thiên ;
2) Long : là rồng ;
3) Dạ xoa : loài quỉ bay đi rất mau ;
4) Càn thát bà : thần âm nhạc ;
5) A tu la : thần chiến đấu. Tàu dịch là Phi thiên ; có phước như Trời mà đức kém hơn Trời ;
6) Ca lâu na : chim đại bàng ;
7) Khẩn na la : thần pháp nhạc;.
8) Ma hầu la dà : thần mãng xà.
1) Thiên : chư Thiên ;
2) Long : là rồng ;
3) Dạ xoa : loài quỉ bay đi rất mau ;
4) Càn thát bà : thần âm nhạc ;
5) A tu la : thần chiến đấu. Tàu dịch là Phi thiên ; có phước như Trời mà đức kém hơn Trời ;
6) Ca lâu na : chim đại bàng ;
7) Khẩn na la : thần pháp nhạc;.
8) Ma hầu la dà : thần mãng xà.
28. Tỳ kheo : Tiếng Phạn
“Bhiksu”, các thầy xuất gia thọ giới cụ túc (thọ 250 giới của Phật). Ðàn ông
gọi là Tỳ kheo, còn đàn bà gọi là Tỳ kheo ni (Thọ 350 giới).
29. Ưu bà tắc : Tàu dịch
là cận sự nam. Cận sự : nghĩa là thường thân cận cúng dường ủng hộ các bực xuất
gia tu hành, tức là chỉ những người tại gia cư sĩ bên nam giới.
30. Ưu bà di : Tàu dịch
là cận sự nữ tức là nữ cư sĩ.
31. Tòa sư tử : Pháp tòa
của Phật ; Phật ngồi chỗ nào thuyết pháp, thời chỗ ấy gọi là “tòa sư tử”; vì
Phật tự tại vô úy hàng phục được tất cả các ngoại đạo nên lấy sư tử làm ví dụ
.
32. Trưởng giả tử : con
ông Trưởng giả. Trưởng giả là người vừa có của cải, vừa có đức hạnh đầy đủ.
Kinh Pháp Hoa Huyền Tán quyển 10 nói : “Tâm tánh ngay thẳng, lời lẽ chơn thật,
hành vi thuần cẩn, tuổi tác già cả, của cải giàu có gọi là Trưởng giả.”
33. Bảy báu : Vàng, Bạc,
Lưu ly, Pha lê, Xa cừ, Xích châu, Mã não.
34. Tam thiên Ðại thiên
thế giới : Một thái dương hệ tương đương với một tiểu thế giới; một ngàn tiểu
thế giớì, là một tiểu thiên thế giới; một ngàn tiểu thiên thế giới là một trung
thiên thế giới; một ngàn trung thiên thế giới là một đại thiên thế giới. Vậy
đại thiên thế glới là một thế giới trải qua ba lần nhơn cho số ngàn, nên gọi là
“Tam thiên Ðại thiên thế giới”.
35. Dùng tích độ chúng :
Tức dùng đạo lý Niết bàn tịch diệt dứt trừ tất cả nghiệp chướng khổ lụy để độ
chúng sanh.
36. Ðệ nhứt nghĩa :
Tượng trưng chơn lý cứu cánh, thật tánh các pháp; trên hết tất cả là “đệ nhứt”,
có lý do như thật gọi là “nghĩa”. Cảnh giới của bậc tự giác thánh trí chứng
đặng. Chẳng phải hạng dùng ngôn thuyết vọng tưởng so lường biết được. Trong
kinh Pháp Hoa nghĩa sớ quyển 4 nói : “Cái đạo nhứt thật, lý cùng tột không chi
hơn là “đệ nhứt””. Có nguyên do như thật gọi là “Nghĩa”.
37. Phật thọ : Tức là
cội bồ đề; chỗ Phật thành đạo ở dưới cội cây này gọi là Phật thọ, Ðạo thọ hay
là Bồ đề thọ.
38. Cam lồ diệt : Cam lồ
dụ cho Niết bàn; chứng đặng Niết bàn, dứt dòng sanh tử, gọi là “Cam lồ
diệt”.
39. Không tâm ý, không
thọ hành: Là không còn tâm niệm vọng tưởng phân biệt và tâm cảm giác xúc thọ,
thi vi động tác.
40. Ba lần chuyển pháp :
Tức tam chuyển pháp luân. Khi đức Phật Thích Ca mới thành đạo, nói pháp tứ đế
cho 5 thấy Tỳ Kheo ở vườn Lộc Uyển, ba phen nói thành mười hai hành... Pháp của
Phật dạy hay dẹp trừ phiền não của chúng sanh, như bánh xe hay cán dẹp cỏ rác,
cát, sạn, nên gọi là Pháp luân. Người nói giáo pháp để chuyển tâm ô nhiểm của
chúng sanh thành tâm thanh tịnh gọi là “Chuyển pháp luân”. Lại có nghĩa là
chuyển ba món : hoặc, nghiệp, khổ trở thành ba đức: Bát nhã, Giải thoát, Pháp
thân gọi là ba lần chuyển pháp.
41. Pháp hải: Biển pháp.
Phật pháp rộng lớn khó lường ví như bể cả.
42. Nhơn bảo : Phật là
đấng báu quí hơn hết trong cõi trời và cõi người .
43. Tam giới tôn : Ðức
Phật là đấng cao cả đầy đủ phước đức hơn hết trong 3 cõi, tất cả nhơn thiên đều
cung kính tôn trọng nên gọi là “Tam giới tôn”.
44. Pháp bát cộng : cũng
như thập bát bất cộng, có giải ở số 22.
45. Ðạo sư : Bậc dắt dẫn
chúng sanh đi vào chánh đạo; tên chung của Phật và Bồ Tát.
46. Kiết phược : Các
phiền não ràng buộc thân tâm làm cho không được tự tại giải thoát, nên phiền
não cũng gọi là “kiết phược”.
47. Không tịch: Không
các tướng là “Không”. Không khởi diệt là “tịch”. Rổng rang xa lìa tất cả tướng,
không tâm niệm khởi diệt gọi là hạnh “không tịch”.
48. Pháp tướng : Tướng
trạng sai khác của các pháp trong vũ trụ. Sách Ðại Thừa nghĩa chương quyển 2 nói
: “Tất cả pháp hữu vi, vô vi trong thế gian đều gọi là pháp tướng”.
49. Trực tâm : Tâm chơn
thật, không dua dối tà vạy; tâm chánh niệm chơn như.
50. Thâm tâm : Tâm mong
cầu Phật quả cao thâm; tâm ưa muốn nhóm góp gieo trồng tất cả công đức cao dày,
bền chắc, không thể dứt mất.
51. Bồ đề tâm : Tâm cầu
đạo lý chơn chánh, tâm mong đạo quả chánh giác.
52. Mười điều lành :
Thuận lý khởi tâm đối với cảnh không phạm 10 điều dữ :
1) Sát sanh; 2) Trộm cắp; 3) Tà dâm; 4) Nói dối; 5) Nói lời thêu dệt;
6) Nói hai lưỡi; 7) Nói lờỉ độc ác; 8) Tham; 9) Sân; 10) Si
mà thật hành những điều: phóng sanh, Bố thí, phạm hạnh, nói chắc thật, nói lời chơn chánh, nói lời hòa hiệp, nói lời dịu dàng, chẳng ghét, chẳng giận, chẳng tà kiến.
1) Sát sanh; 2) Trộm cắp; 3) Tà dâm; 4) Nói dối; 5) Nói lời thêu dệt;
6) Nói hai lưỡi; 7) Nói lờỉ độc ác; 8) Tham; 9) Sân; 10) Si
mà thật hành những điều: phóng sanh, Bố thí, phạm hạnh, nói chắc thật, nói lời chơn chánh, nói lời hòa hiệp, nói lời dịu dàng, chẳng ghét, chẳng giận, chẳng tà kiến.
53. Ba mươi hai tướng
tốt :
1) Trên đỉnh đầu thịt nổi cao lên;
2) Lông trắng chặn giữa hai chơn mày (bạch hào);
3) Tròng mắt đen trắng phân minh;
4) Lông nheo dài đẹp như của Long vưong;
5) Gương mặt tròn trịa như mặt trăng rằm;
6) Răng đủ 40 cái;
7) Răng nhỏ đều khít khao;
8) Răng trắng trong tinh sạch;
9) Luỡi rộng dài khi le ra đến chơn tóc;
10) Tiếng nói thanh tao nghe rất xa;
11) Trong cổ hầu thường có chất nước cam lồ rịn ra;
12) Thân mình nở nang tròn suông;
13) Nam căn ẩn kín;
14) Hai bên hông đầy đặn;
15) Hal tay dài quá gối;
16) Cánh tay và bàn tay da thịt mềm dịu như bông;
17) Ngón tay dài và vót;
18) Vế như vế của Lộc vương;
19) Lưng hai bàn chân no tròn;
20) Lòng bàn chân bằng phẳng;
21) Gót chân tròn trịa;
22) Lòng bàn chân có chỉ xoáy tròn rõ ràng như bánh xe nghìn cọng; 23) Kẻ ngón tay và ngón chân có da mỏng mịn như giăng lưới;
24) Bảy chỗ trong thân đều đầy đặn: (hai lòng bàn tay, hai lưng bàn chân, hai vai và yết hầu);
25) Tất cả lỗ chơn lông đều có lông đẹp;
26) Lông và tóc đều xoáỵ tròn về phía hữu;
27) Da mịn màng trơn láng;
28) Màu da như màu vàng ròng tử kim;
29) Thân hình cao lớn hơn mọi người;
30) Hình tướng đoan nghiêm;
31) Thân hinh ngay thẳng vững vàng;
32) Thường có ánh sáng sắc vàng ròng chiếu ra một tầm.
1) Trên đỉnh đầu thịt nổi cao lên;
2) Lông trắng chặn giữa hai chơn mày (bạch hào);
3) Tròng mắt đen trắng phân minh;
4) Lông nheo dài đẹp như của Long vưong;
5) Gương mặt tròn trịa như mặt trăng rằm;
6) Răng đủ 40 cái;
7) Răng nhỏ đều khít khao;
8) Răng trắng trong tinh sạch;
9) Luỡi rộng dài khi le ra đến chơn tóc;
10) Tiếng nói thanh tao nghe rất xa;
11) Trong cổ hầu thường có chất nước cam lồ rịn ra;
12) Thân mình nở nang tròn suông;
13) Nam căn ẩn kín;
14) Hai bên hông đầy đặn;
15) Hal tay dài quá gối;
16) Cánh tay và bàn tay da thịt mềm dịu như bông;
17) Ngón tay dài và vót;
18) Vế như vế của Lộc vương;
19) Lưng hai bàn chân no tròn;
20) Lòng bàn chân bằng phẳng;
21) Gót chân tròn trịa;
22) Lòng bàn chân có chỉ xoáy tròn rõ ràng như bánh xe nghìn cọng; 23) Kẻ ngón tay và ngón chân có da mỏng mịn như giăng lưới;
24) Bảy chỗ trong thân đều đầy đặn: (hai lòng bàn tay, hai lưng bàn chân, hai vai và yết hầu);
25) Tất cả lỗ chơn lông đều có lông đẹp;
26) Lông và tóc đều xoáỵ tròn về phía hữu;
27) Da mịn màng trơn láng;
28) Màu da như màu vàng ròng tử kim;
29) Thân hình cao lớn hơn mọi người;
30) Hình tướng đoan nghiêm;
31) Thân hinh ngay thẳng vững vàng;
32) Thường có ánh sáng sắc vàng ròng chiếu ra một tầm.
54. Tứ vô lương tâm :
Cũng gọi là tứ đẳng tâm.
1) Từ : lòng ban vui cho chúng sanh ;
2) Bi : lòng cứu khổ chúng sanh ;
3) Hỷ : lòng vui mừng khi thấy người khỏi khổ được vui ;
4) Xả : lòng không chấp trước chỗ thật hành của ba tâm trên.
Từ nơi cảnh sở duyên (chúng sanh) nói là vô lượng; từ nơi tâm năng duyên (Bồ Tát) mà khởi bình đẳng nên gọl là đẳng.
1) Từ : lòng ban vui cho chúng sanh ;
2) Bi : lòng cứu khổ chúng sanh ;
3) Hỷ : lòng vui mừng khi thấy người khỏi khổ được vui ;
4) Xả : lòng không chấp trước chỗ thật hành của ba tâm trên.
Từ nơi cảnh sở duyên (chúng sanh) nói là vô lượng; từ nơi tâm năng duyên (Bồ Tát) mà khởi bình đẳng nên gọl là đẳng.
55. Tứ nhiếp pháp
:
1) Bố thí nhiếp : Bồ Tát dùng tài pháp bố thí nhiếp dẫn chúng sanh trụ nơi chơn lý;
2) Ái ngữ nhiếp : Bồ tát hay tùy thuận căn tánh của chúng sanh và dùng lời nói hay ho ủy dụ họ trụ nơi chơn lý ;
3) Lợi hành nhiếp : Bồ Tát khởi hạnh từ thiện nơl thân, khẩu, ý làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, nhơn đó họ được trụ nơi chơn lý.
4) Ðồng sự nhiếp : Bồ Tát dùng pháp nhãn thấy rõ căn tánh của chúng sanh, tùy theo chỗ ưa muốn của họ mà phân hình thị hiện, khiến họ được thắm nhuần lợi ích, nhơn đó họ được an trụ nơi chơn lý.
1) Bố thí nhiếp : Bồ Tát dùng tài pháp bố thí nhiếp dẫn chúng sanh trụ nơi chơn lý;
2) Ái ngữ nhiếp : Bồ tát hay tùy thuận căn tánh của chúng sanh và dùng lời nói hay ho ủy dụ họ trụ nơi chơn lý ;
3) Lợi hành nhiếp : Bồ Tát khởi hạnh từ thiện nơl thân, khẩu, ý làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, nhơn đó họ được trụ nơi chơn lý.
4) Ðồng sự nhiếp : Bồ Tát dùng pháp nhãn thấy rõ căn tánh của chúng sanh, tùy theo chỗ ưa muốn của họ mà phân hình thị hiện, khiến họ được thắm nhuần lợi ích, nhơn đó họ được an trụ nơi chơn lý.
56. 37 phẩm trợ đạo : 4
pháp niệm xứ ; 4 pháp chánh cần ; 4 pháp như ý túc ; 5 căn ; 5 lục ; 7 pháp
giác chi ; 8 pháp đạo phần . 37 pháp này giúp cho người tu hành thành tựu được
đạo quả, nên gọi là trợ đạo, có giải rõ ở sau.
57. Hồi hướng tâm: Hồi:
Hồi chuyển; Hướng: thu hướng. Hồi hướng là khởi lòng đại bi cứu độ chúng sanh,
xoay chuyển công đức, căn lành hướng về ba chỗ: 1) Chỗ sở chúng chơn như thật
tế; 2) Chỗ sở cấu vô thượng Bồ đề; 3) Chỗ sở độ tất cả chúng sanh.
58. Ba đường ác : 1) Ðịa
ngục, 2) Ngạ quỉ, 3) Súc sanh.
59. Tám nạn :
1) Ðịa ngục ;
2) Ngạ quỉ ;
3) Súc sanh ;
4) Trường thọ thiên ;
5) Bắc cu lô châu ;
6) Ðui, điếc, ngọng, liệu ;
7) Thế trí biện thông,
8) Sanh trước Phật hay sau Phật.
Sở dĩ gọi là tám nạn là vì ở tám chỗ này dù cảm thọ quả khổ vui có khác, nhưng đều không được thấy Phật, không được nghe chánh pháp.
1) Ðịa ngục ;
2) Ngạ quỉ ;
3) Súc sanh ;
4) Trường thọ thiên ;
5) Bắc cu lô châu ;
6) Ðui, điếc, ngọng, liệu ;
7) Thế trí biện thông,
8) Sanh trước Phật hay sau Phật.
Sở dĩ gọi là tám nạn là vì ở tám chỗ này dù cảm thọ quả khổ vui có khác, nhưng đều không được thấy Phật, không được nghe chánh pháp.
60. Phạm hạnh : Giới
hạnh thanh tịnh, hạnh đoạn dâm dục.
61. Cung trời Tự tại :
Cung điện của trời Tự Tại Thiên Vương ở trên chót từng tứ thiền cõi sắc
giới.
62. Thần túc : Pháp thần
thông biến hóa tự tại vô ngại của Phật tu chứng.
63. Hữu vi : các pháp có
tạo tác, sanh diệt, tức là chỉ tất cả hiện tượng biến thiên trong vũ trụ
.
64. Trần cấu : Nghĩa là
bụi nhớp, tức là những sự mê lầm làm cho tâm phải mờ tối. Xa lìa trần cấu tức
dứt hết 88 phẩm kiến hoặc trong ba cõi.
65. Pháp nhãn thanh tịnb
: Thấy rõ được lý chơn thật của các pháp ; tiểu thừa chứng đưọc sơ quả, do đã
xa lìa trần cấu kiến hoặc, thấy rõ thật lý pháp tứ đế. Ðại thừa chứng được Vô
sanh pháp nhẫn vào bậc Sơ địa.
66. Kiết lậu : Các phiền
não kết dệt trong tự tâm, nên phiền năo cũng gọi là “kiết lậư”. Kiết lậu đã
hết, vì dứt trừ lòng ái nhiễm mê đắm không còn chấp thọ các pháp nên tâm ý được
giải thoát, chứng đến bực vô học (A la hán).
|
KINH DUY-MA-CẬT
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
* * * * *
III. PHẨM ĐỆ TỬ (1) ...
XÁ LỢI PHẤT (2)
Lúc bấy giờ, Trưởng giả
Duy Ma Cật nghĩ thầm rằng :
– Nay ta bịnh nằm ở giuờng, Thế Tôn là đấng Đại từ, lẽ đâu không đoái lòng thương xót !
– Nay ta bịnh nằm ở giuờng, Thế Tôn là đấng Đại từ, lẽ đâu không đoái lòng thương xót !
Phật đã biết ý ông, liền
bảo Xá Lợi Phất rằng:
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Xá Lợi Phất bạch Phật:
– Bạch Thế Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? - Nhớ lại trước kia, con từng ở trong rừng ngồi yên lặng (tọa thiền) dưới gốc cây, khi ấy ông Duy Ma Cật đến bảo con rằng : “Thưa Ngài Xá Lợi Phất ? Bất tất ngồi sững đó mới là ngồi yên lặng. Vả chăng ngồi yên lặng là ở trong ba cõi mà không hiện thân ý, mới là ngồi yên lặng; không khởi diệt tận định(3) mà hiện các oai nghi, mới là ngồi yên lặng ; không rời đạo pháp mà hiện các việc phàm phu, mới là ngồi yên lặng ; tâm không trụ trong cũng không ở ngoài mới là ngồi yên lặng ; đối với các kiến chấp không động mà tu ba mươi bảy phẩm trợ đạo mới là ngồi yên lặng; không đoạn phiền não mà vào Niết bàn(4) mới là ngồi yên lặng. Nếu ngồi được như thế là chỗ Phật ấn khả (chứng nhận) vậy”.
– Bạch Thế Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? - Nhớ lại trước kia, con từng ở trong rừng ngồi yên lặng (tọa thiền) dưới gốc cây, khi ấy ông Duy Ma Cật đến bảo con rằng : “Thưa Ngài Xá Lợi Phất ? Bất tất ngồi sững đó mới là ngồi yên lặng. Vả chăng ngồi yên lặng là ở trong ba cõi mà không hiện thân ý, mới là ngồi yên lặng; không khởi diệt tận định(3) mà hiện các oai nghi, mới là ngồi yên lặng ; không rời đạo pháp mà hiện các việc phàm phu, mới là ngồi yên lặng ; tâm không trụ trong cũng không ở ngoài mới là ngồi yên lặng ; đối với các kiến chấp không động mà tu ba mươi bảy phẩm trợ đạo mới là ngồi yên lặng; không đoạn phiền não mà vào Niết bàn(4) mới là ngồi yên lặng. Nếu ngồi được như thế là chỗ Phật ấn khả (chứng nhận) vậy”.
Bạch Thế Tôn, lúc ấy con
nghe nói những lời đó rồi, im lặng không trả lời đặng, nên con không dám đến
thăm bịnh ông.
MỤC KIỀN LIÊN (5)
Phật bảo Đại Mục Kiền
Liên:
– Ông đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
– Ông đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Mục Kiền Liên bạch Phật
:
– Bạch Thế Tôn ! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? Nhớ lại trước kia, con vào trong thành Tỳ Da Ly ở trong xóm làng nói Pháp cho các hàng cư sĩ nghe, lúc ấy ông Duy Ma Cật đến bảo con rằng : “Này Ngài Đại Mục Kiền Liên, nói Pháp cho bạch y cư sĩ, không phải như Ngài nói đó. Vả chăng nói Pháp phải đúng như pháp (xứng tánh) mà nói. Pháp không chúng sanh, lìa chúng sanh cấu(6); pháp không có ngã, lìa ngã cấu, Pháp không có thọ mạng, lìa sanh tử ; Pháp không có nhơn, làn trước làn sau đều dứt ; Pháp thường vắng lặng, bặt hết các tướng ; Pháp lìa các tướng, không phải cảnh bị duyên ; Pháp không danh tự, dứt đường ngôn ngữ ; Pháp không nói năng, lìa giác quán(7) ; pháp không hình tướng; như hư không; Pháp không hí luận, rốt ráo là không ; Pháp không ngă sở(8), lìa ngã sở ; Pháp không phân biệt, lìa các thức ; Pháp không chi so sánh, không có đối đãi ; Pháp không thuộc nhân, không nhờ duyên, Pháp đồng pháp tánh, khắp vào các Pháp ; Pháp tuy nơi như, không có chỗ tùy ; Pháp trụ thật tế(9), các bên (hữu, vô, thường, đoạn) không động được ; Pháp không lay động, không nương sáu trần(10) ; Pháp không tới lui, thường không dừng (trụ) ; Pháp thuận “không”, tùy “vô tướng”, ứng “vô tác”(11) ; Pháp lìa tốt xấu ; Pháp không thêm bớt ; Pháp không sanh diệt ; Pháp không chỗ về ; Pháp ngoài mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; Pháp không cao thấp : Pháp thường trụ không động ; Pháp lìa tất cả quán hạnh. Thưa Ngài Đại Mục Kiền Liên ! Pháp tướng như thế đâu có thể nói ư ?
– Bạch Thế Tôn ! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? Nhớ lại trước kia, con vào trong thành Tỳ Da Ly ở trong xóm làng nói Pháp cho các hàng cư sĩ nghe, lúc ấy ông Duy Ma Cật đến bảo con rằng : “Này Ngài Đại Mục Kiền Liên, nói Pháp cho bạch y cư sĩ, không phải như Ngài nói đó. Vả chăng nói Pháp phải đúng như pháp (xứng tánh) mà nói. Pháp không chúng sanh, lìa chúng sanh cấu(6); pháp không có ngã, lìa ngã cấu, Pháp không có thọ mạng, lìa sanh tử ; Pháp không có nhơn, làn trước làn sau đều dứt ; Pháp thường vắng lặng, bặt hết các tướng ; Pháp lìa các tướng, không phải cảnh bị duyên ; Pháp không danh tự, dứt đường ngôn ngữ ; Pháp không nói năng, lìa giác quán(7) ; pháp không hình tướng; như hư không; Pháp không hí luận, rốt ráo là không ; Pháp không ngă sở(8), lìa ngã sở ; Pháp không phân biệt, lìa các thức ; Pháp không chi so sánh, không có đối đãi ; Pháp không thuộc nhân, không nhờ duyên, Pháp đồng pháp tánh, khắp vào các Pháp ; Pháp tuy nơi như, không có chỗ tùy ; Pháp trụ thật tế(9), các bên (hữu, vô, thường, đoạn) không động được ; Pháp không lay động, không nương sáu trần(10) ; Pháp không tới lui, thường không dừng (trụ) ; Pháp thuận “không”, tùy “vô tướng”, ứng “vô tác”(11) ; Pháp lìa tốt xấu ; Pháp không thêm bớt ; Pháp không sanh diệt ; Pháp không chỗ về ; Pháp ngoài mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; Pháp không cao thấp : Pháp thường trụ không động ; Pháp lìa tất cả quán hạnh. Thưa Ngài Đại Mục Kiền Liên ! Pháp tướng như thế đâu có thể nói ư ?
Vả chăng người nói Pháp,
không nói, không dạy, còn người nghe, cũng không nghe không được. Ví như nhà
huyễn thuật nói Pháp cho người huyễn hóa nghe, phải dụng tâm như thế mà nói
Pháp. Phải biết căn cơ của chúng sanh có lợi độn, khéo nơi tri kiến không bị
ngăn ngại, lấy tâm đạì bi ngợi khen Pháp Đại thừa, nghĩ nhớ đền trả ơn Phật,
chớ để ngôi Tam Bảo dứt mất, như vậy mới nên nói Pháp”.
Khi ông Duy Ma Cật nói
Pháp ấy rồi, tám trăm Cư sĩ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Con không
được biện tài như thế, nên không dám lãnh đến thăm bịnh ông.
ĐẠI CA DIẾP (12)
Phật bảo Đại Ca Diếp :
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Ca Diếp bạch Phật :
– Bạch Thế Tôn ! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Là vì sao? - Con nhớ lại trước kia, khi khất thực trong xóm nhà nghèo, lúc ấy ông Duy Ma Cật đến nói với con rằng : Này Ngài Đại Ca Diếp! Có lòng từ bi mà không phổ cập là bỏ nhà giàu mà đi đến nhà nghèo. Ngài Ca Diếp ! Ở Pháp bình đẳng nên đi khất thực theo thứ lớp. Vì không ăn mà đi khất thực ; vì phá tướng hòa hiệp mà bốc cơm ăn ; vì không nhận mà nhận món ăn của người ; vì tưởng “không tụ” mà vào làng xóm ; có thấy sắc cũng như người đui ; có nghe tiếng cũng như vang ; có ngửi mùi cũng như gió ; lúc nếm vị không phân biệt ; chạm các vật như trí chứng(13) ; biết các Pháp tướng như huyễn, không tự tánh, không tha tánh, trước vốn không sanh, nay cũng không diệt. Ngài Ca Diếp ? Nếu có thể không bỏ bát tà(14) mà vào bát giải thoát(15), dùng tướng tà mà vào Chánh pháp, dùng một bữa ăn mà thí cho tất cả, cúng dường chư Phật và các bực Hiền Thánh rồi sau mới ăn. Ăn như thế, không phải có phiền não, không phải rời phiền não, không phải vào định ý(15), không phải ra định ý, không phải ở thế gian, không phải ở Niết bàn, người thí không có phước lớn, không có phước nhỏ, không được lợi ích, không bị tổn hại, đó chính là vào Phật đạo, không nương theo hạnh Thanh Văn. Ngài Ca Diếp ? Nếu ăn như thế là ăn đồ cúng thí của người không uổng vậy.
– Bạch Thế Tôn ! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Là vì sao? - Con nhớ lại trước kia, khi khất thực trong xóm nhà nghèo, lúc ấy ông Duy Ma Cật đến nói với con rằng : Này Ngài Đại Ca Diếp! Có lòng từ bi mà không phổ cập là bỏ nhà giàu mà đi đến nhà nghèo. Ngài Ca Diếp ! Ở Pháp bình đẳng nên đi khất thực theo thứ lớp. Vì không ăn mà đi khất thực ; vì phá tướng hòa hiệp mà bốc cơm ăn ; vì không nhận mà nhận món ăn của người ; vì tưởng “không tụ” mà vào làng xóm ; có thấy sắc cũng như người đui ; có nghe tiếng cũng như vang ; có ngửi mùi cũng như gió ; lúc nếm vị không phân biệt ; chạm các vật như trí chứng(13) ; biết các Pháp tướng như huyễn, không tự tánh, không tha tánh, trước vốn không sanh, nay cũng không diệt. Ngài Ca Diếp ? Nếu có thể không bỏ bát tà(14) mà vào bát giải thoát(15), dùng tướng tà mà vào Chánh pháp, dùng một bữa ăn mà thí cho tất cả, cúng dường chư Phật và các bực Hiền Thánh rồi sau mới ăn. Ăn như thế, không phải có phiền não, không phải rời phiền não, không phải vào định ý(15), không phải ra định ý, không phải ở thế gian, không phải ở Niết bàn, người thí không có phước lớn, không có phước nhỏ, không được lợi ích, không bị tổn hại, đó chính là vào Phật đạo, không nương theo hạnh Thanh Văn. Ngài Ca Diếp ? Nếu ăn như thế là ăn đồ cúng thí của người không uổng vậy.
Bạch Thế Tôn ! Lúc đó
con nghe ông Duy Ma Cật nói lời ấy tỏ ngộ được điều chưa từng có, càng sâu khởi
tâm cung kính tất cả các vị Bồ Tát. Con lại nghĩ rằng : “Kẻ danh gia này có
biện tài trí tuệ mới được như thế ? Ai nghe mà chẳng phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác ? Từ ấy đến nay, con chẳng còn đem hạnh Thanh Văn(17), Bích Chi Phật
(18) để khuyên dạy người, vì thế nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.
TU BỒ ĐỀ (19)
Phật bảo Tu Bồ Đề :
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Tu Bồ Đề bạch Phật :
– Bạch Thế Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? - Nhớ lại thuở trước, con vào khất thực nơi nhà ông, lúc đó trưởng giả Duy Ma Cật lấy cái bát của con đựng đầy cơm rồi nói với con rằng : “Thưa Ngài Tu Bồ Đề ! Đối với cơm bình đẳng, thì các Pháp cũng bình đẳng, các Pháp bình đẳng thì cơm cũng bình đẳng, đi khất thực như thế mới nên lãnh món ăn. Như Tu Bồ Đề không trừ dâm nộ si cũng không chung cùng với nó, không hoại
thân mình mà theo một tướng, không dứt si ái sanh ra giải thoát, ở tướng ngũ nghịch(20) mà đặng giải thoát, không mở cũng không buộc, không thấy tứ đế(21) cũng không phải không thấy tứ đế, không phải đắc quả cũng không phải không đắc quả, không phải phàm phu cũng không phải rời phàm phu, không phải thánh nhơn, không phải không thánh nhơn, tuy làm nên tất cả các Pháp mà rời tướng các Pháp, thế mới nên lấy món ăn. Như Tu Bồ Đề
không thấy Phật không nghe Pháp, bọn lục sư ngoại đạo(22) kia như Phú Lan Na Ca Diếp, Mạc Dà Lê Câu Xa Lê Tử , San Xà Dạ Tỳ La Chi Tử , A Kỳ Đa Xy Xá Khâm Ba La, Ca La Cưu Đà Ca Chiên Diên, Ni Kiền Đà Nhã Đề Tử là thầy của Ngài. Ngài theo bọn kia xuất gia, bọn lục sư kia đọa, Ngài cũng đọa theo, mới nên lấy món ăn. Tu Bồ Đề ! Nếu Ngài vào nơi tà kiến, không đến bờ giác, ở nơi tám nạn, không được khỏi nạn, đồng với phiền não, lìa Pháp thanh tịnh, Ngài được vô tránh tam muội(23), tất cả chúng sanh cũng được tam muội ấy, những người thí cho Ngài chẳng gọi phước điền, những kẻ cúng dường cho Ngài đọa vào ba đường ác(24), Ngài cùng với ma nắm tay nhau làm bạn lữ, Ngài cùng với các ma và các trần lao như nhau không khác, đối với tất cả chúng sanh mà có lòng oán hận, khinh báng Phật, chê bai Pháp, không vào số chúng (Tăng), hoàn toàn không được diệt độ, nếu Ngài được như thế mới nên lấy món ăn.
– Bạch Thế Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? - Nhớ lại thuở trước, con vào khất thực nơi nhà ông, lúc đó trưởng giả Duy Ma Cật lấy cái bát của con đựng đầy cơm rồi nói với con rằng : “Thưa Ngài Tu Bồ Đề ! Đối với cơm bình đẳng, thì các Pháp cũng bình đẳng, các Pháp bình đẳng thì cơm cũng bình đẳng, đi khất thực như thế mới nên lãnh món ăn. Như Tu Bồ Đề không trừ dâm nộ si cũng không chung cùng với nó, không hoại
thân mình mà theo một tướng, không dứt si ái sanh ra giải thoát, ở tướng ngũ nghịch(20) mà đặng giải thoát, không mở cũng không buộc, không thấy tứ đế(21) cũng không phải không thấy tứ đế, không phải đắc quả cũng không phải không đắc quả, không phải phàm phu cũng không phải rời phàm phu, không phải thánh nhơn, không phải không thánh nhơn, tuy làm nên tất cả các Pháp mà rời tướng các Pháp, thế mới nên lấy món ăn. Như Tu Bồ Đề
không thấy Phật không nghe Pháp, bọn lục sư ngoại đạo(22) kia như Phú Lan Na Ca Diếp, Mạc Dà Lê Câu Xa Lê Tử , San Xà Dạ Tỳ La Chi Tử , A Kỳ Đa Xy Xá Khâm Ba La, Ca La Cưu Đà Ca Chiên Diên, Ni Kiền Đà Nhã Đề Tử là thầy của Ngài. Ngài theo bọn kia xuất gia, bọn lục sư kia đọa, Ngài cũng đọa theo, mới nên lấy món ăn. Tu Bồ Đề ! Nếu Ngài vào nơi tà kiến, không đến bờ giác, ở nơi tám nạn, không được khỏi nạn, đồng với phiền não, lìa Pháp thanh tịnh, Ngài được vô tránh tam muội(23), tất cả chúng sanh cũng được tam muội ấy, những người thí cho Ngài chẳng gọi phước điền, những kẻ cúng dường cho Ngài đọa vào ba đường ác(24), Ngài cùng với ma nắm tay nhau làm bạn lữ, Ngài cùng với các ma và các trần lao như nhau không khác, đối với tất cả chúng sanh mà có lòng oán hận, khinh báng Phật, chê bai Pháp, không vào số chúng (Tăng), hoàn toàn không được diệt độ, nếu Ngài được như thế mới nên lấy món ăn.
Bạch Thế Tôn ! Lúc đó
con nghe những lời ấy rồi mờ mịt không biết là nói gì, cũng không biết lấy lời
chi đáp, con liền để bát lại muốn ra khỏi nhà ông. Ông Duy Ma Cật nói : Thưa
Ngài Tu Bồ Đề! Ngài lấy bát chớ sợ ? Ý Ngài nghĩ sao ? Như Phật biến ra một
người huyễn hóa và nếu người huyễn hóa đó đem việc này hỏi Ngài, chừng ấy Ngài
có sợ chăng ? - Con đáp : “Không sợ !”. Trưởng giả Duy Ma Cật lại nói : Tất cả
các Pháp như tướng huyễn hóa, Ngài không nên có tâm sợ sệt. Vì sao
? – Vì tất cả lời nói năng không lìa tướng huyễn hóa, chí như người trí không
chấp văn tự nên không sợ. Vì sao thế ? - Tánh văn tự vốn ly, không có văn tự đó
là giải thoát. Tướng giải thoát đó là các Pháp vậy”.
Khi ông Duy Ma Cật nói
Pháp ấy rói, hai trăm Thiên Tử được Pháp nhãn thanh tịnh. Vì thế, nên con không
kham lãnh đến thăm bịnh ông.
PHÚ LÂU NA (25)
Phật bảo Phú Lâu Na Di
Đa La Ni Tử :
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Phú Lâu Na bạch Phật :
– Bạch Thế Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao ? Nhớ lại trước kia con ở trong rừng lớn, dưới gốc cây nói Pháp cho các Tỳ Kheo mới học, lúc đó ông Duy Ma Cật đến bảo con : “Thưa Phú Lâu Na ! Ngài nên nhập định trước để quán sát tâm địa của những người này, rồi sau mới nên nói Pháp. Ngài chớ đem món ăn dơ để trong bát báu, phải biết rõ tâm niệm của các vị Tỳ kheo này, chớ cho ngọc lưu ly đồng với thủy tinh, chớ nên dùng pháp tiểu thừa mà phát khởi cho họ, những người kia tự không có tì vết, chớ làm cho họ có tì vết, họ muốn đi đường lớn, chớ chỉ lối nhỏ. Ngài chớ nên đem biển lớn để vào dấu chơn trâu, chớ cho ánh sáng mặt trời đồng với lửa đom đóm. Ngài Phú Lâu Na ! Những vị Tỳ kheo này đã phát tâm đại thừa từ lâu, giữa chừng quên lãng, nay tại sao lại lấy pháp tiểu thừa dẫn dạy họ? Tôi xem hàng tiểu thừa trí tuệ cạn cợt cũng như người mù, không phân biệt được căn tánh lợi độn của chúng sanh.
– Bạch Thế Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao ? Nhớ lại trước kia con ở trong rừng lớn, dưới gốc cây nói Pháp cho các Tỳ Kheo mới học, lúc đó ông Duy Ma Cật đến bảo con : “Thưa Phú Lâu Na ! Ngài nên nhập định trước để quán sát tâm địa của những người này, rồi sau mới nên nói Pháp. Ngài chớ đem món ăn dơ để trong bát báu, phải biết rõ tâm niệm của các vị Tỳ kheo này, chớ cho ngọc lưu ly đồng với thủy tinh, chớ nên dùng pháp tiểu thừa mà phát khởi cho họ, những người kia tự không có tì vết, chớ làm cho họ có tì vết, họ muốn đi đường lớn, chớ chỉ lối nhỏ. Ngài chớ nên đem biển lớn để vào dấu chơn trâu, chớ cho ánh sáng mặt trời đồng với lửa đom đóm. Ngài Phú Lâu Na ! Những vị Tỳ kheo này đã phát tâm đại thừa từ lâu, giữa chừng quên lãng, nay tại sao lại lấy pháp tiểu thừa dẫn dạy họ? Tôi xem hàng tiểu thừa trí tuệ cạn cợt cũng như người mù, không phân biệt được căn tánh lợi độn của chúng sanh.
Lúc bấy giờ ông Duy Ma
Cật liền nhập tam muội (chánh định) làm cho những vị Tỳ kheo đó biết được kiếp
trước của mình đã từng ở 500 đức Phật vun trồng các cội đức, hồi hướng về đạo
vô thượng chánh đẳng chánh giác, liền đó rỗng suốt trở lại đặng bổn tâm (Đại
thừa). Khi ấy, các vị Tỳ kheo cúi đầu đãnh lễ nơi chơn ông Duy Ma Cật, ông liền
nhân đó nói pháp làm cho tất cả không còn thối lui nơi đạo vô thượng Bồ Đề.
Con nghĩ hàng Thanh Văn
như con không quán được căn cơ của người, không nên nói Pháp. Vì thế con không
kham lãnh đến thăm bịnh ông.
MA HA CA CHIÊN DIÊN (26)
Phật bảo Ma Ha Ca Chiên
Diên :
– Ông đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
– Ông đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Ca Chiên Diên bạch Phật
:
– Bạch Thế Tôn ! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? Nhớ lại lúc trước, Phật nói lược qua yếu chỉ các Pháp cho các Tỳ Kheo nghe, sau khi đó, con diễn nói lại nghĩa ấy, là những nghĩa vô thường(27), khổ(28), không(29), vô ngã(30), và tịch diệt(31).
– Bạch Thế Tôn ! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? Nhớ lại lúc trước, Phật nói lược qua yếu chỉ các Pháp cho các Tỳ Kheo nghe, sau khi đó, con diễn nói lại nghĩa ấy, là những nghĩa vô thường(27), khổ(28), không(29), vô ngã(30), và tịch diệt(31).
Lúc bấy giờ ông Duy Ma
Cật đến nói với con rằng. Thưa Ngài Ca Chiên Diên ! Ngài chớ nên đem tâm
hạnh sanh diệt mà nói Pháp thật tướng(32). Ngài Ca Chiên Diên ! Các Pháp rốt
ráo không sanh, không diệt là nghĩa “vô thường” ; năm ấm rỗng không,
không chỗ khởi là nghĩa “khổ” ; các Pháp rốt ráo không có, là nghĩa “không” ;
ngã và vô ngã không hai, là nghĩa “vô ngã” ; Pháp trước không sanh, nay cũng
không diệt, là nghĩa “tịch diệt”.
Khi ông Duy Ma Cật nói
Pháp ấy xong, các Tỳ Kheo kia tâm được giải thoát. Vì thế, nên con không kham
lãnh đến thăm bịnh ông.
A NA LUẬT(33)
Phật bảo A Na Luật :
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
A Na Luật bạch Phật :
– Bạch Thế Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? - Nhớ lại lúc trước con đi kinh hành một chỗ nọ, khi ấy có vị Phạm Vương tên Nghiêm Tịnh, cùng với một muôn Phạm Vương khác, phóng ánh sáng trong sạch rực rỡ đến chỗ con cúi đầu làm lễ và hỏi : “Thưa Ngài A Na Luật ? Thiên nhãn của Ngài thấy xa được bao nhiêu ?”. Con liền đáp : “Nhơn giả, tôi thấy cõi Tam thiên Đại thiên thế giới của Phật Thích Ca Mâu Ni đây như thấy
trái Am-ma-lặc(34) trong bàn tay vậy. Lúc đó ông Duy Ma Cật đến nói với con: “Thưa Ngài A Na Luật ? Thiên nhãn của Ngài thấy đó làm ra tướng mà thấy hay là không làm ra tướng mà thấy ? Nếu như làm ra tướng thì khác gì ngũ thông(35) của ngoại đạo, nếu không làm ra tướng thì là vô vi, lẽ ra không thấy ? Bạch Thế
Tôn ! Lúc ấy con nín lặng.
– Bạch Thế Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? - Nhớ lại lúc trước con đi kinh hành một chỗ nọ, khi ấy có vị Phạm Vương tên Nghiêm Tịnh, cùng với một muôn Phạm Vương khác, phóng ánh sáng trong sạch rực rỡ đến chỗ con cúi đầu làm lễ và hỏi : “Thưa Ngài A Na Luật ? Thiên nhãn của Ngài thấy xa được bao nhiêu ?”. Con liền đáp : “Nhơn giả, tôi thấy cõi Tam thiên Đại thiên thế giới của Phật Thích Ca Mâu Ni đây như thấy
trái Am-ma-lặc(34) trong bàn tay vậy. Lúc đó ông Duy Ma Cật đến nói với con: “Thưa Ngài A Na Luật ? Thiên nhãn của Ngài thấy đó làm ra tướng mà thấy hay là không làm ra tướng mà thấy ? Nếu như làm ra tướng thì khác gì ngũ thông(35) của ngoại đạo, nếu không làm ra tướng thì là vô vi, lẽ ra không thấy ? Bạch Thế
Tôn ! Lúc ấy con nín lặng.
Các vị Phạm thiên nghe ông
Duy Ma Cật nói lời ấy rồi đặng chỗ chưa từng có, liển làm lễ hỏi ông rằng “Bạch
Ngài ở trong đời ai là người có chơn thiên nhãn (36) ?”.
Trưởng giả Duy Ma Cật
đáp : “Có Phật Thế Tôn được chơn thiên nhãn, thường ở tam muội, thấy suốt các
cõi Phật không có hai tướng” .
Khi ấy Nghiêm Tịnh Phạm
vương cùng quyến thuộc năm trăm Phạm Vương đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác, đảnh lễ dưới chơn ông Duy Ma Cật rồi bỗng nhiên biến mất. Vì thế,
nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.
ƯU BA LY (37)
Phật bảo Ưu Ba Ly :
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Ưu Ba Ly bạch Phật :
– Bạch Thế Tôn ! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? - Con nhớ lại ngày trước có hai vị Tỳ Kheo phạm luật hạnh, lấy làm hổ thẹn, không dám hỏi Phật, đến hỏi con rằng : “Dạ thưa Ngài Ưu Ba Ly ! Chúng tôi phạm luật thật lấy làm hổ thẹn, không dám hỏi Phật, mong nhờ Ngài giải rõ chỗ nghi hồi cho chúng tôi được khỏi tội ấy”. Con liền y theo pháp, giải nói cho hai vị.
– Bạch Thế Tôn ! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? - Con nhớ lại ngày trước có hai vị Tỳ Kheo phạm luật hạnh, lấy làm hổ thẹn, không dám hỏi Phật, đến hỏi con rằng : “Dạ thưa Ngài Ưu Ba Ly ! Chúng tôi phạm luật thật lấy làm hổ thẹn, không dám hỏi Phật, mong nhờ Ngài giải rõ chỗ nghi hồi cho chúng tôi được khỏi tội ấy”. Con liền y theo pháp, giải nói cho hai vị.
Bấy giờ ông Duy Ma Cật
đến nói với con : “Thưa Ngài Ưu Ba Ly, Ngài chớ kết thêm tội cho hai vị Tỳ Kheo
này, phải trừ dứt ngay, chớ làm rối loạn lòng họ. Vì sao ? - Vì tội tánh kia
không ở trong, không ở ngoài, không ở khoảng giữa. Như lời Phật nói : “Tâm nhơ
nên chúng sanh nhơ, tâm sạch nên chúng sanh sạch. Tâm cũng không ở trong,
không ở ngoài, không ở khoảng giữa. Tâm kia như thế nào, tội cấu cũng như thế
ấy. Các Pháp cũng thế không ra ngoài chơn như. Như Ngài Ưu Ba Ly, khi tâm
tướng được giải thoàt thì có tội cấu chăng ?”. Con đáp : “Không”. Ông Duy Ma Cật nói : “Tất cả chúng sanh tâm tướng không nhơ cũng như thế ? Thưa Ngài Ưu Ba Ly ! Vọng tưởng là nhơ, không vọng tưởng là sạch ; điên đảo là nhơ, không điên đảo là sạch ; chấp ngã là nhơ, không chấp ngã là sạch. Ngài Ưu Ba Ly ? Tất cả pháp sanh diệt không dừng, như huyễn, như chớp ; các Pháp không chờ nhau cho đến một niệm không dừng ; các Pháp đều là vọng kiến, như chiêm bao, như nắng dợn, như trăng dưới nước, như bóng trong gương, do vọng tưởng sanh ra. Người nào biết nghĩa này gọi là giữ luật, người nào rõ nghĩa này gọi là khéo hiểu.
tướng được giải thoàt thì có tội cấu chăng ?”. Con đáp : “Không”. Ông Duy Ma Cật nói : “Tất cả chúng sanh tâm tướng không nhơ cũng như thế ? Thưa Ngài Ưu Ba Ly ! Vọng tưởng là nhơ, không vọng tưởng là sạch ; điên đảo là nhơ, không điên đảo là sạch ; chấp ngã là nhơ, không chấp ngã là sạch. Ngài Ưu Ba Ly ? Tất cả pháp sanh diệt không dừng, như huyễn, như chớp ; các Pháp không chờ nhau cho đến một niệm không dừng ; các Pháp đều là vọng kiến, như chiêm bao, như nắng dợn, như trăng dưới nước, như bóng trong gương, do vọng tưởng sanh ra. Người nào biết nghĩa này gọi là giữ luật, người nào rõ nghĩa này gọi là khéo hiểu.
Lúc đó hai vị Tỳ Kheo
khen rằng : “Thật là bực thuợng trí ? Ngài Ưu Ba Ly này không thể sánh kịp Ngài
là bực giữ luật hơn hết mà không nói được”.
Con đáp rằng : “Trừ đức
Như Lai ra, chưa có bực Thanh Văn và Bồ Tát nào có thể chế phục được chỗ nhạo
thuyết biện tài(38) của ông Duy Ma Cật. Trí tuệ của ông thông suốt không
lường”.
Khi ấy, hai vị Tỳ kheo
dứt hết nghi hối, phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và phát nguyện
rằng : “Nguyện làm cho tất cả chúng sanh đều được biện tài như vậy”. Vì thế,
nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.
LA HẦU LA(39)
Phật bảo La Hầu La :
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
La Hầu La bạch Phật :
– Bạch Thế Tôn ! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? - Nhớ lúc trước kia, các Trưởng giả tử ở thành Tỳ Da Ly đến con cúi đầu làm lễ hỏi rằng ? “Thưa Ngài La Hầu La, Ngài là con của Phật vì đạo bỏ ngôi Chuyển Luân Vương(40) mà xuất gia, việc xuất gia đó có những lợi ích gì ?”. Con liền đúng theo Pháp mà nói sự ích lợi của công đức xuất gia. Lúc đó, ông Duy Ma Cật đến nói với con rằng : “Thưa La Hầu La ! Ngài không nên nói cái lợi của công đức xuất gia. Vì sao ? – Không lợi không công đức, mới thật là xuất gia. Về pháp hữu vi(41) có thể nói là có lợi, có công đức còn xuất gia là pháp vô vi(42), trong pháp vô vi không lợi, không công đức - La Hầu La ? Vả chăng xuất gia là không kia, không đây, cũng không ở chính giữa ; ly sáu mươi hai môn kiến chấp(43), ở nơi Niết bàn, là chỗ nhận của ngưỡi trí, chỗ làm của bực Thánh, hăng phục các ma, khỏi ngũ đạo(44), sạch ngũ nhãn(45), đặng ngũ lực(46), lập ngũ căn(47), không làm náo người khác, rời các tạp ác(48), dẹp các ngoại đạo, vượt khỏi giả danh, ra khỏi bùn lầy ; không bị ràng buộc, không ngã sở, không chỗ thọ, không rối loạn trong lòng, ưa hộ trợ ý người khác, tùy thiền định, rời các lỗi. Nếu được như thế mới thật là xuất gia”.
– Bạch Thế Tôn ! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? - Nhớ lúc trước kia, các Trưởng giả tử ở thành Tỳ Da Ly đến con cúi đầu làm lễ hỏi rằng ? “Thưa Ngài La Hầu La, Ngài là con của Phật vì đạo bỏ ngôi Chuyển Luân Vương(40) mà xuất gia, việc xuất gia đó có những lợi ích gì ?”. Con liền đúng theo Pháp mà nói sự ích lợi của công đức xuất gia. Lúc đó, ông Duy Ma Cật đến nói với con rằng : “Thưa La Hầu La ! Ngài không nên nói cái lợi của công đức xuất gia. Vì sao ? – Không lợi không công đức, mới thật là xuất gia. Về pháp hữu vi(41) có thể nói là có lợi, có công đức còn xuất gia là pháp vô vi(42), trong pháp vô vi không lợi, không công đức - La Hầu La ? Vả chăng xuất gia là không kia, không đây, cũng không ở chính giữa ; ly sáu mươi hai môn kiến chấp(43), ở nơi Niết bàn, là chỗ nhận của ngưỡi trí, chỗ làm của bực Thánh, hăng phục các ma, khỏi ngũ đạo(44), sạch ngũ nhãn(45), đặng ngũ lực(46), lập ngũ căn(47), không làm náo người khác, rời các tạp ác(48), dẹp các ngoại đạo, vượt khỏi giả danh, ra khỏi bùn lầy ; không bị ràng buộc, không ngã sở, không chỗ thọ, không rối loạn trong lòng, ưa hộ trợ ý người khác, tùy thiền định, rời các lỗi. Nếu được như thế mới thật là xuất gia”.
Khi ấy, ông Duy Ma Cật
bảo các Trưởng giả tử : “Các ngươi nay ở trong Chánh Pháp nên cùng nhau xuất
gia. Vì sao ? - Phật ra đời khó gặp”.
Các Trưởng giả tử nói :
– Thưa Cư sĩ, chúng tôi nghe Phật dạy : “Cha mẹ không cho, không được xuất gia”.
– Thưa Cư sĩ, chúng tôi nghe Phật dạy : “Cha mẹ không cho, không được xuất gia”.
Ông Duy Ma Cật nói :
– Phải, các ngươi nếu phát tâm Vô Thượng Bồ Đề(49), đó chính là xuất gia, đó chính là đầy đủ Giới Pháp.
– Phải, các ngươi nếu phát tâm Vô Thượng Bồ Đề(49), đó chính là xuất gia, đó chính là đầy đủ Giới Pháp.
Bấy giờ ba mươì hai vị
Trưởng g,iả tử đều phát tâm Vô Thượng Bồ Đề. Vì thế, nên con không kham lãnh
đến thăm bịnh ông.
A NAN (50)
Phật bảo A Nan :
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
A Nan bạch Phật :
– Bạch Thế Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Là vì sao ? - Nhớ lại lúc trước, Thế Tôn thân hơi có bịnh phải dùng sữa bò, con cầm bát đến đứng trước cửa nhà người đại Bà la môn. Lúc bấy giờ ông Duy Ma Cật đến bảo con : “Này A Nan ? Làm gì cầm bát đứng đây sớm thế ?”.
– Bạch Thế Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Là vì sao ? - Nhớ lại lúc trước, Thế Tôn thân hơi có bịnh phải dùng sữa bò, con cầm bát đến đứng trước cửa nhà người đại Bà la môn. Lúc bấy giờ ông Duy Ma Cật đến bảo con : “Này A Nan ? Làm gì cầm bát đứng đây sớm thế ?”.
Con đáp : “Cư sĩ, Thế
Tôn thân hơi có bịnh phải dùng sữa bò, nên tôi đến đây xin sữa”.
Ông Duy Ma Cật nói :
“Thôi thôi ! Ngài A Nan chớ nói lời ấy ! Thân Như Lai là thể kim cang(51), các
ác đã dứt, các lành khắp nhóm, còn có bịnh gi, còn có não gì ? - Im lặng bước
đi, Ngài A Nan ! Chớ phỉ báng Như Lai, chớ cho người khác nghe lời nói thô ấy,
chớ làm cho các trời oai đức lớn và các Bồ Tát từ Tịnh độ phương khác đến đây
nghe được lời ấy ! Ngài A Nan ! Chuyển Luân Thánh Vương có ít phước báu còn
không tật bịnh, huống chi Như Lai phước báu nhiều hơn tất cả đấy ư ? Hãy đi
Ngài A Nan ? Chớ làm cho chúng tôi chịu sự nhục đó, hàng ngoại đạo Phạm Chí nếu
nghe lời ấy, chắc sẽ nghĩ rằng : “Sao gọi là Thầy, bịnh của mình không cứu nổi
mả cứu được bịnh ngươi khác ư ?” Nên lẽn đi mau, chớ để cho người nghe ! Ngài A
nan ! Phải biết thân Như Lai, chính là Pháp Thân(52), không phải thân tư dục
(53). Phật là bực Thế Tôn hơn hết ba cõi, thân Phật là vô lậu(54), các lậu đã
hết, thân Phật là vô vi, không mắc vào các số lượng, thân như thế còn có bịnh
gì ?”.
Bạch Thế Tôn ! Lúc đó
con thật quá hổ thẹn không lẽ con gần Phật mà nghe lầm ư ? Con liền nghe trên
hư không có tiếng nói rằng : “A Nan ! Đúng như lời Cư sĩ đã nói, chỉ vì Phật
ứng ra đời ác đủ năm món trược (55) nên hiện ra việc ấy, để độ thoát chúng sanh
thôi. A Nan! Hãy đi lấy sữa chớ có thẹn”.
Bạch Thế Tôn ! Ông Duy
Ma Cật trí tuệ biện tài dường
ấy, cho nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.
ấy, cho nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.
Như vậy, năm trăm vị đại
đệ tử mỗi người đếu đối trước Phật trình bày chỗ bổn duyên(56) của mình, vị nào
cũng khen ngợi, thuật lại những lời của ông Duy Ma Cật và đều nói : “Không kham
lãnh đến thăm bịnh ông”.
Chú thích của phẩm III
1. Ðệ tử : Em, con,
nghĩa là theo đạo thầy trò, thời Thầy coi trò như em, nên dùng theo cách đối
với người em và cư xử. Trò thờ Thầy như cha, nên lấy theo đạo lý con người mà
phụng sự Thầy. Thầy trò đối đãi với nhau nên xưng là “Ðệ tử”. Lại có nghĩa : Giác
ngộ sau Phật gọi là em (đệ). Trí giác ngộ nhờ Phật phát sinh gọi là con (tử).
Hai chữ “Ðệ tử”, ở đây chuyên chỉ cho hàng Thanh Văn. Dẫu biết rầng Phật là Ðạo
sư trong ba cõi, cha lành của bốn loài, thời ai chẳng phải là đệ tử của Phật.
Nhưng vì hàng Thanh Văn là những bậc xuất gia, theo Phật nghe pháp, hiểu biết,
ngộ đạo chứng quả, nhiếp về số chúng tăng giữ gìn ngôi Tam Bảo, làm mô phạm cho
ba cõi, hằng theo hầu Phật châu du giáo hóa khắp nơi. Chắng phải như hàng tại
gia, tuy tin Phật mà còn phụng sự quân thân, hàng Bồ Tát dù khế hợp Phật đạo,
mà lại tùy cơ tùy chỗ ứng hiện giáo hóa không định, nên trong kinh thường gọi
Ðệ tử là riêng chỉ cho hàng Thanh Văn vậy.
2. Xá Lợi Phất :
(Sariputra) Tàu dịch là “Thu tử”, nghĩa là con bà “Thu Lộ”. Ông là người trí
tuệ cao siêu, biệt tài mẫn thiệp. Khi ông còn ở trong bụng mẹ, đã xui cho mẹ
biện luận giỏi hơn người cậu là Cu Si La (Kansthla). Ðến khi ông lên 8 tuổi đã
có tài diễn thuyết, cả 16 nước không ai nghi luận bằng. Sau ông theo học đạo
Phật, mới bảy ngày đã thông hiểu các Pháp, nên gọi là Trí tuệ đệ nhất.
3. Diệt tận định :
(Nirodbasamapatti) cũng gọi Diệt thọ tưởng định : nghĩa là diệt hết 6 thức tâm
vuơng và tâm sở không còn khởi hiện hạnh. Hàng nhị thừa từ quả thứ ba sắp lên,
tạm tưởng nhập Niết bàn thời nhập định này, thuộc về thánh quả chớ chẳng phải
như vô tâm định của ngoại đạo.
4. Niết Bàn : (Nirvana)
cũng gọi là Nê hoàn. Tàu dịch Diệt độ : Nghĩa là dứt hết phiền não nghiệp
chướng vượt khỏi vòng sanh tử. Lại dịch là Viên tịch : Ðức đầy đủ khắp trần sa
là “Viên”, bặt dứt nghiệp chướng khổ lụy, gọi là “Tịch”. Cũng chỉ cho bản tánh
tịch tịnh, rời tất cả pháp sanh diệt khổ lụy.
6. Mục Kiền Liên : (Mua
Dgalyayana) : Tàu dịch : họ Thái Thúc. Ban sơ ông tu theo ngoại đạo đã lâu mà
không công hiệu gì, sau nhờ ông Xá Lợi Phất thuật lại bài kệ Nhân duyên cho ông
nghe, liền tỏ ngộ : theo Phật tu hành chứng quả Thanh Văn, đặng phép Thần thông
bậc nhất.
6. Chúng sanh cấu : Các
tâm chấp ngã, chấp có chúng sanh. Trên bản thể chơn pháp không có chúng sanh,
nếu chấp có chúng sanh thành nhơ chơn pháp, nếu ngộ được chơn pháp không có
chúng sanh, thời cái nhơ chấp trước kia không còn nữa.
7. Giác quán : Cũng gọi
là Tầm Từ : Suy nghĩ bằng cách tâm niệm vội vàng thô động gọi là giác. Suy nghĩ
chín chắn bằng tâm nhỏ nhiệm gọi là quán. Hai món này làm chướng ngại rối loạn
cho tâm định, lại làm nguyên nhân phát khởi ra lời nói năng. Nếu lìa Giác Quán
thì không còn lời nói năng.
8. Ngã sở : Ngã : Ta, là
lối ngoại đạo, phàm phu chấp chính thân ta có một chủ tể hằng còn, hay ngoài
thân có đấng chủ tể thường còn cùng khắp, thọ dụng tất cả và hay sanh vạn vật.
Ngã sỡ : vật sở hữu, phụ thuộc của Ngã (ta), ngã là chủ của vạn vật, vạn vật là
sở hữu của ngã. Ðây là do tính chấp có ngã mới có ngã sở.
9. Thực tế : Cùng cực
thật lý của bản thể vũ trụ, Pháp tánh chơn như.
10. Sáu trần : Sắc,
thinh, hương, vị, xúc, pháp.
11. Không, Vô tướng. Vô
tác : Gọi là tam không. Ba môn này đều nói về Lý Không, cũng gọi là Tam tam
muội.
1) Không tam muội : Quán các pháp từ nhơn duyên sanh, không có ngã và ngã sở.
2) Vô tướng tam muội : Xa lìa những tướng Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc và tướng Nam, tướng Nữ.
3) Vô tác tam muội : Ðối với các pháp xả hết tâm mong muốn, không còn sự tạo tác
1) Không tam muội : Quán các pháp từ nhơn duyên sanh, không có ngã và ngã sở.
2) Vô tướng tam muội : Xa lìa những tướng Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc và tướng Nam, tướng Nữ.
3) Vô tác tam muội : Ðối với các pháp xả hết tâm mong muốn, không còn sự tạo tác
12. Ðại Ca Diếp : Tàu
dịch là Ẩm Quang, nghĩa là hào quang chói sáng trùm hết các ánh sáng khác.
Nguyên kiếp trước ông chung đậu vàng với người ta và ra công thiếp tượng Phật,
nhờ công đức ấy, nên đời đời cảm đặng cái báo thân sắc vàng ánh chóí. Khi gặp
Ðức Phật ra đời giáo hóa, ông nguyện theo tu hành, sau lãnh thọ đặng chánh
pháp. Trong hàng Ðại đệ tử, ông là đức hạnh bực nhất, cũng là khổ hạnh bực nhứt
nữa.
13. Như trí chứng : Tức là khi Thật trí chứng chơn lý thành tựu đạo quả, toàn thân nhẹ nhàng an vui mà không sanh đắm nhiễm ; ý nói thân chạm lánh các vật tốt, xấu, êm ấm v.v... cũng không có cảm thọ mê đắm như trí chứng vậy.
13. Như trí chứng : Tức là khi Thật trí chứng chơn lý thành tựu đạo quả, toàn thân nhẹ nhàng an vui mà không sanh đắm nhiễm ; ý nói thân chạm lánh các vật tốt, xấu, êm ấm v.v... cũng không có cảm thọ mê đắm như trí chứng vậy.
14. Bát tà : 1. Tà kiến,
2. Tà tư duy, 3. Tà ngữ, 4. Tà nghiệp, 5. Tà mạng, 6. Tà phương tiện, 7. Tà
niệm: 8. Tà định. Trái với Bát chánh đạo thời gọi là Bát tà.
15. Bát giải thoát :
Cũng là bát bội xả. Nghĩa là tám pháp thiền định này có công năng xa lìa, trãi
bỏ tất cả phiền não được giải thoát những sự triền phược trong ba cõi.
1) Nội hữu sắc tướng ngoại quán sắc : Vì muốn diệt trừ lòng tham đắm, người tu hành trước phải quán thân mình là vật nhơ nhớp, nhưng vì còn lòng tham đối với thân người, nên cũng phải quán cái thân ngưòi khác cũng như thế.
2) Nội vô sắc tướng ngoại quán sắc : Mới diệt được sắc tướng trong thân nhưng lòng tham dục đối với người ở cõi Dục khó đoạn hết, nên cũng còn quán tướng người khác bất tịnh.
3) Tịnh bội xả thân tác chứng : Ðến đây không còn tham trước tướng bất tịnh ở ngoài, chỉ ở trong cảnh định luyện tập tâm sắc quang minh trong suốt (Tịnh Bội xả). Tâm đã sáng suốt thì vui càng tăng trưởng đầy khắp trong thân (thân bội xả).
4) Hư không xứ bội xả : Người tu hành diệt được lòng tham muốn sắc thân bất tịnh của mình và của người, được nhứt tâm duyên “Không” cùng với “Không” tương ứng, tức nhập được định “Vô biên hư không xứ”.
5) Thức xứ bội xả : Do xả Hư không xứ định, nhứt tâm duyên thức. Lúc nhập định này, tức quán định, nhàm chán không ưa đắm nữa.
6) Vô sở hữu xứ bội xả : Do xả thức xứ, nhứt tâm duyên Vô sở hữu xứ. Lúc nhập định này, tức quán định y nơi năm uẩn đều không thật nên không còn ái trước nữa.
7) Phi hữu tưởng, Phi vô tưởng xứ bội xả : Do xả vô sở hữu xứ định, nhứt tâm duyên phi hữu tưởng, phi vô tưởng. Lúc nhập định này, y nơi năm uẩn đều không thật, nên tâm sanh nhàm chán.
8) Diệt thọ tưởng bội xả : Vì nhàm chán cái tâm tán loạn nên nhập định cho diệt hẳn tâm ấy đi. Khi đắc định cả rồi thì thành ra tám đạo giải thoát nên gọi là Bát giải.
1) Nội hữu sắc tướng ngoại quán sắc : Vì muốn diệt trừ lòng tham đắm, người tu hành trước phải quán thân mình là vật nhơ nhớp, nhưng vì còn lòng tham đối với thân người, nên cũng phải quán cái thân ngưòi khác cũng như thế.
2) Nội vô sắc tướng ngoại quán sắc : Mới diệt được sắc tướng trong thân nhưng lòng tham dục đối với người ở cõi Dục khó đoạn hết, nên cũng còn quán tướng người khác bất tịnh.
3) Tịnh bội xả thân tác chứng : Ðến đây không còn tham trước tướng bất tịnh ở ngoài, chỉ ở trong cảnh định luyện tập tâm sắc quang minh trong suốt (Tịnh Bội xả). Tâm đã sáng suốt thì vui càng tăng trưởng đầy khắp trong thân (thân bội xả).
4) Hư không xứ bội xả : Người tu hành diệt được lòng tham muốn sắc thân bất tịnh của mình và của người, được nhứt tâm duyên “Không” cùng với “Không” tương ứng, tức nhập được định “Vô biên hư không xứ”.
5) Thức xứ bội xả : Do xả Hư không xứ định, nhứt tâm duyên thức. Lúc nhập định này, tức quán định, nhàm chán không ưa đắm nữa.
6) Vô sở hữu xứ bội xả : Do xả thức xứ, nhứt tâm duyên Vô sở hữu xứ. Lúc nhập định này, tức quán định y nơi năm uẩn đều không thật nên không còn ái trước nữa.
7) Phi hữu tưởng, Phi vô tưởng xứ bội xả : Do xả vô sở hữu xứ định, nhứt tâm duyên phi hữu tưởng, phi vô tưởng. Lúc nhập định này, y nơi năm uẩn đều không thật, nên tâm sanh nhàm chán.
8) Diệt thọ tưởng bội xả : Vì nhàm chán cái tâm tán loạn nên nhập định cho diệt hẳn tâm ấy đi. Khi đắc định cả rồi thì thành ra tám đạo giải thoát nên gọi là Bát giải.
16. Ðịnh ý : Tức tịnh
tâm. Tu thiền định xa lìa ý tán loạn.
17. Thanh Văn : Hàng đệ
tử Tiểu thừa y theo chánh giáo của Phật dạy, tu tập pháp Tứ đế, đoạn Kiến hoặc
và Tư hoặc, chứng chánh quả. Có 4 bực:
1) Tu đà hoàn (Dự lưu quả), 2. Từ đà hàm (Nhứt lai quả), 3. A na hàm (Bất lai quả), 4. A la hán (Vô sanh quả).
1) Tu đà hoàn (Dự lưu quả), 2. Từ đà hàm (Nhứt lai quả), 3. A na hàm (Bất lai quả), 4. A la hán (Vô sanh quả).
18. Bích Chi Phật :
Thuộc về trung thừa có 2 hạng :
1) Ðộc Giác : ra đời không gặp đặng Phật và giáo pháp, do căn lành sẵn có, ngó thấy cảnh tang thương, hoa tàn, lá úa v.v... ngộ lý vô thường, phát tâm xuất ly dục trần, tự tu tập pháp vô thường quán, chứng quả vô sanh khỏi vòng sanh tử trong tam giới ;
2) Duyên Giác : Ra đời gặp Phật và giáo pháp, tu tập theo phép quán 12 nhơn duyên chứng quả vô sanh (Ðồng bực A La Hán của Thanh Văn).
1) Ðộc Giác : ra đời không gặp đặng Phật và giáo pháp, do căn lành sẵn có, ngó thấy cảnh tang thương, hoa tàn, lá úa v.v... ngộ lý vô thường, phát tâm xuất ly dục trần, tự tu tập pháp vô thường quán, chứng quả vô sanh khỏi vòng sanh tử trong tam giới ;
2) Duyên Giác : Ra đời gặp Phật và giáo pháp, tu tập theo phép quán 12 nhơn duyên chứng quả vô sanh (Ðồng bực A La Hán của Thanh Văn).
19. Tu Bồ Ðề : (Shabuti)
Tàu dịch là Không Sanh. Bực Ðại A La Hán tỏ ngộ lý chơn không, bực nhứt trong
hàng Thanh Văn.
20. Ngũ nghịch : 1) Giết
cha ; 2) Giết mẹ ; 3) Giết A La Hán ; 4)Phá hòa hợp của chúng Tăng ; 5) Làm cho
thân Phật chảy máu.
21. Tứ Ðế :
1) Khổ đế : tất cả cảnh khổ trong ba cõi như sanh, già, bịnh, chết v.v...
2) Tập đế : Nguyên nhân tất cả cảnh khổ, tức phiền não tham, sân, si v.v. chứa nhóm kết thành.
3) Diệt đế : Tịch diệt Niết bàn ; dứt hết phiền não nguyên nhân thống khổ, khỏi hẳn sanh tử an vui vắng lặng.
4) Ðạo đế : Các Thánh đạo, những phương pháp tu hành để đoạn phiền não, chứng Thánh quả.
1) Khổ đế : tất cả cảnh khổ trong ba cõi như sanh, già, bịnh, chết v.v...
2) Tập đế : Nguyên nhân tất cả cảnh khổ, tức phiền não tham, sân, si v.v. chứa nhóm kết thành.
3) Diệt đế : Tịch diệt Niết bàn ; dứt hết phiền não nguyên nhân thống khổ, khỏi hẳn sanh tử an vui vắng lặng.
4) Ðạo đế : Các Thánh đạo, những phương pháp tu hành để đoạn phiền não, chứng Thánh quả.
22. Lục sư ngoại đạo :
Sáu ông Thầy chủ trương học thuyết ngoại đạo :
1) Phú Lan Na, chủ trương thuyết đoạn diệt ;
2) Mạt Già Lê, chủ trương thuyết tự nhiên sinh ;
3) San Xà Gia, chủ trương thuyết không tu hành ;
4) A Kỳ Ða, chủ trương khổ hạnh ;
5) Ca Na, chủ trương thuyết ngụy blện ;
6) Ni Càn Ðà, chủ trương thuyết định mạng, tức Ấn Ðộ giáo bây giờ.
1) Phú Lan Na, chủ trương thuyết đoạn diệt ;
2) Mạt Già Lê, chủ trương thuyết tự nhiên sinh ;
3) San Xà Gia, chủ trương thuyết không tu hành ;
4) A Kỳ Ða, chủ trương khổ hạnh ;
5) Ca Na, chủ trương thuyết ngụy blện ;
6) Ni Càn Ðà, chủ trương thuyết định mạng, tức Ấn Ðộ giáo bây giờ.
23. Vô tránh tam muội :
Là môn chánh định cao siêu hơn hết trong các môn chánh định của hàng Thanh Văn.
Môn định này do vì liễu ngộ lý không, nên bỉ, ngã đều quên, không làm tổn não
chúng sanh, lại hay khiến chúng sanh không khởi phiền não.
24. Ba đường ác : Ðia
ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh.
25. Phú Lâu Na Di Ða La
Ni Tử : (Purnamaitrayaniputra) Tàu dịch là Mãn Từ Tử, nghĩa là con của ông Mãn
(cha) bà Tữ (mẹ). ông có tài thuyết pháp bực nhứt trong hàng Thanh Văn.
26. Ma Ha Ca Chiên Diên
: (Maha Katyayana) Tàu dịch Văn Sức, nghĩa là nói năng diu dàng, biện luận rành
rẽ. Ông là người có biện tài bực nhứt trong hàng Tỳ kheo.
27. Vô thường : Tất cả
pháp trong đời sanh diệt dời đổi phút chốc không dừng gọi là Vô thường. Trong
Trí Ðộ Luận về quyển 23 nói : “Tất cả pháp hữu vi đều vô thường vì chập chập
sanh diệt, vì thuộc nhơn duyên vậy”.
28. Khổ : Những việc bức
não thân tâm gọi là khổ, như sanh, già, bịnh, chết v.v...
29. Không : Các pháp do
nhân duyên sanh ra, tìm xét cùng tột không có thật thể, nên gọi là không.
30. Vô ngã : Thân thể
chỉ do ngũ uẩn giả hợp không có chủ tể thường nhứt. Các pháp đều do nhân duyên
sanh cũng không có ngã thể thường nhứt. Trong kinh Kim Cang nói : người thông
suốt được pháp vô ngã, Như Lai gọi là Chơn Bồ Tát.
31. Tịch diệt : Tiếng
Phạn gọi là Niết Bàn. Lý thể tịch tịnh lìa tất cả tướng gọi là Tịch Diệt.
32. Thật tướng : Tướng
chân thật không giả dối, tức là chỉ cho bản thể vạn hữu trong vũ trụ. Bản thể
ấy có khi gọi là Pháp tánh, Chơn như hay Thật tướng. Danh từ tuy khác mà thể là
một.
33. A Na Luật :
(Aniruddha) cũng gọi A Nậu Lầu Ðà. Tàu dịch là Như ý. Nghĩa là kiếp trước ông
có cúng dường một vị Phật Bích Chi, nên đời đời cảm đặng quả báo phú túc, chỗ
cầu đều mãn nguyện. Khi ông mới nhập đạo, tánh hay ưa ngủ, bị Phật quở trách
ông tự hổ, tinh tấn tu tập thức luôn bảy ngày đêm đến nỗì hai mắt không thấy
đường, nhờ Phật dạy tu pháp “Kim cang tam muội” nên sau ông đặng Thiên nhãn bực
nhứt.
34. A Ma Lặc : Thứ trái
cây hình giống trái Binh Lang (trái cau) ăn nó trừ được bịnh phong lãnh.
35. Ngũ thông : 1. Thiên
nhãn thông, 2. Thiên nhĩ thông, 3. Tha tâm thông, 4. Túc mạng thông, 5. Thần
túc thông.
36. Chơn thiên nhãn : Là
mắt của Phật, Phật hằng ở trong định, vạn tượng đều hiện trước mắt, chưa từng
không thấy, mà chưa từng có thấy, nên nói không có hai tướng.
37. Ưu Ba Ly : (Upali)
Tàu dịch là Cận Chấp, nghĩa là nói lúc Phật làm Thái tử, ngài Ưu Ba Ly làm quan
đại thần: thân cận giúp cho Thái tử, sau theo Phật xuất gia, chứng quả A La
Hán, ngài là bực giữ luật thứ nhứt.
38. Nhạo thuyết biện tài
: Bồ Tát do nội trí phát sáng hay tùy thuận căn tánh chúng sanh ưa nghe pháp mà
diễn nói một cách viên dung vô ngại.
39. La Hầu La : (Rahula)
Tàu dịch là Phú Chướng, nghĩa là bị ngăn chướng ở trong thai mẹ 6 năm mới sanh
ra, ông là con của Phật Thích Ca. Khi bà Da Du Ðà La sanh ông ra, nhằm lúc thần
A tu la lấy tay che khuất mặt trời, vì thế nên dặt tên ông là La Hầu La. Trong
kinh Nhân Duyên nói : Trong 10 người đệ tử lớn của Phật, ông La Hầu La là mật
hạnh bực nhứt. Ðến hội Pháp Hoa, ông được thọ ký sau sẽ thành Phật hiệu là “Ðạo
thất Bảo Hoa Như Lai”.
40. Chuyển Luân Vương :
có bốn : 1. Thiết Luân Vương cai trị một châu thiên hạ; 2. Ðồng Luân Vương cai
trị 2 châu thiên hạ; 3. Ngân Luân Vương cai trị 3 châu thiên hạ; 4. Kim Luân
Vương (cai trị 4 châu thiên hạ). Vì phước nghiệp đời trước, nên khi làm vua, có
xe báu tự nhiên, hoặc bằng sắt, đồng, bạc, vàng hiện ra, vua ngồi xe đó đi tuần
hay dẹp giặc trong cõi mình cai trị nên gọi là Chuyển Luân Thánh Vương.
41. Hữu vi : Các pháp có
tạo tác sanh diệt, tức là chỉ tất cả hiện tượng biến thiên trong vũ trụ.
42. Vô vi : Vi là thi vi
tạo tác, vô vi là cái không có thi vi tạo tác lại không bị bốn tướng Sanh, Trụ,
Dị, Diệt cai quản, tức là bản thể chơn lý.
43. Sáu mươi hai món kiến chấp : Ðối với pháp ngũ ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) mỗi ấm phái ngoại đạo khởi 4 món kiến chấp sai lầm : 1) Chấp sắc lớn ngã nhỏ, ngã ở trong sắc ; 2) Chấp ngã lớn sắc nhỏ, sắc ở trong ngã ; 3) Ngoài sắc chấp ngã riêng ; 4) Ngã tức là Sắc. Sắc ấm như thế thì các ấm kia cũng thế, cộng thành 20 kiến, trải ba đời nhơn thành 60 kiến, thêm hai phần căn bản là Ðoạn kiến và Thường kiến, thành 62 món tà kiến. Vì rừng kiến chấp sai lầm ấy, nên người đời không chừa một tội lỗi nào mà không làm.
43. Sáu mươi hai món kiến chấp : Ðối với pháp ngũ ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) mỗi ấm phái ngoại đạo khởi 4 món kiến chấp sai lầm : 1) Chấp sắc lớn ngã nhỏ, ngã ở trong sắc ; 2) Chấp ngã lớn sắc nhỏ, sắc ở trong ngã ; 3) Ngoài sắc chấp ngã riêng ; 4) Ngã tức là Sắc. Sắc ấm như thế thì các ấm kia cũng thế, cộng thành 20 kiến, trải ba đời nhơn thành 60 kiến, thêm hai phần căn bản là Ðoạn kiến và Thường kiến, thành 62 món tà kiến. Vì rừng kiến chấp sai lầm ấy, nên người đời không chừa một tội lỗi nào mà không làm.
44. Ngu đạo : Năm đường
: Trờí, người, ngạ quỉ, súc sanh, địa ngục.
45. Ngũ nhãn :
1) Nhục nhãn : Mắt thịt thấy gần không thấy xa, thấy ngoài không thấv trong, vì bị sắc chất ngăn ngại ;
2) Thiên nhãn : Mất của chư Thiên nhơn tu thiền định mà thành. Mắt này có thể thấy tất cả xa gần, trước sau, trên dưới, ngày đêm, vì không có sắc chất làm ngăn ngại ;
3) Huệ nhãn : mắt của hàng nhị thừa (Thanh Văn, Duyên Giác) quán thấy tất cả đều không ;
4) Pháp nhãn : mắt của Bố Tát. Bồ Tát vì độ sanh dùng Pháp nhãn thanh tịnh quán khắp tất cả các pháp và tất cả chúng sanh đem những món phương tiện dạy dỗ khiến họ tu chứng ;
5) Phật nhãn : Mắt của Phật, do trí tuệ viên mãn cứu cánh của Phật có đủ bốn con mắt trước nhưng có phán đặc biệt hơn, như : Người thấy rất xa, Phật lại thấy rất gần, người thấy tối tăm, Phật lại thấy sáng, cho đến không việc gì mà Ngài không thấy, không biết, không nghe, không cần để ý mà đều thấy nghe tất cả.
1) Nhục nhãn : Mắt thịt thấy gần không thấy xa, thấy ngoài không thấv trong, vì bị sắc chất ngăn ngại ;
2) Thiên nhãn : Mất của chư Thiên nhơn tu thiền định mà thành. Mắt này có thể thấy tất cả xa gần, trước sau, trên dưới, ngày đêm, vì không có sắc chất làm ngăn ngại ;
3) Huệ nhãn : mắt của hàng nhị thừa (Thanh Văn, Duyên Giác) quán thấy tất cả đều không ;
4) Pháp nhãn : mắt của Bố Tát. Bồ Tát vì độ sanh dùng Pháp nhãn thanh tịnh quán khắp tất cả các pháp và tất cả chúng sanh đem những món phương tiện dạy dỗ khiến họ tu chứng ;
5) Phật nhãn : Mắt của Phật, do trí tuệ viên mãn cứu cánh của Phật có đủ bốn con mắt trước nhưng có phán đặc biệt hơn, như : Người thấy rất xa, Phật lại thấy rất gần, người thấy tối tăm, Phật lại thấy sáng, cho đến không việc gì mà Ngài không thấy, không biết, không nghe, không cần để ý mà đều thấy nghe tất cả.
46. Ngũ căn : 1. Tín căn
; 2.Tấn căn ; 3. Niệm căn ; 4. Ðịnh căn ; 5. Huệ căn đã giải nơi 2 phẩm trong
phần 37 phẩm trợ đạo số 26).
47. Ngũ lực : Tức tu năm
căn trên được tăng trưởng có thế lực phá trừ 5 chướng :
1) Tín lực : tín căn tăng trưởng, phá các lòng tin sai lầm mù quáng;
2) Tấn lực : tinh tấn căn tăng trưởng phá được tính lười biếng của thân tâm; 3) Niệm lực : niệm căn tăng trưởng phá được các niệm sai lầm tà vạy ;
4) Ðịnh lực : định căn tăng trưởng phá được các tư tưởng loạn dộng ;
5) Huệ lực : huệ căn tăng trưởng phá được các sự mê lầm trong 3 cõi.
1) Tín lực : tín căn tăng trưởng, phá các lòng tin sai lầm mù quáng;
2) Tấn lực : tinh tấn căn tăng trưởng phá được tính lười biếng của thân tâm; 3) Niệm lực : niệm căn tăng trưởng phá được các niệm sai lầm tà vạy ;
4) Ðịnh lực : định căn tăng trưởng phá được các tư tưởng loạn dộng ;
5) Huệ lực : huệ căn tăng trưởng phá được các sự mê lầm trong 3 cõi.
48. Tạp ác : Các việc
không lành của tâm tạp nhiễm gây tạo. Hai chữ tạp ác đây, ý nói, dù làm mọi
việc phước thiện mà tâm tạp nhiễm tán loạn cũng gọi là tạp ác. Chỉ dứt trừ vọng
tưởng đến đạo lý cứu cánh Niết Bàn mới gọi là lìa các tạp ác.
49. Vô thượng Bồ đề :
Tức trí giác tuyệt đối, cũng như chữ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, có giải ở
trước.
50. A Nan : Nói đủ A Nan
Ðà (Anada). Tàu dịch là Khánh Hỷ, ông là con chú bác với Phật Thích Ca, học
rộng. nhớ nhiều là bực đa văn thứ nhứt trong hàng Thanh Văn đệ tử.
51. Kim cang : Một chất
rất cứng chắc không chi phá vỡ nó được, mà nó lại hay phá vỡ các thứ cứng
52. Pháp thân : Có 3 thứ
:
1) Pháp Hóa sanh thân, tức là thân Kim cang;
2) Ngũ phần pháp thân (đã giải nơi phẩm 2) ;
3) Thật tướng của các pháp,
đồng hợp thành thân Phật.
1) Pháp Hóa sanh thân, tức là thân Kim cang;
2) Ngũ phần pháp thân (đã giải nơi phẩm 2) ;
3) Thật tướng của các pháp,
đồng hợp thành thân Phật.
53. Tư dục thân : Thân
hình do tư tưởng ái dục đợi duyên hòa hiệp sanh ở trong 3 cõi.
54. Vô lậu : Không còn
rơi lọt, tức từ các bực Thánh trong hàng Thanh Văn. Bồ Tát tu hành đã dứt hết
phiền não, tự tâm thanh tịnh giải thoát, không còn nghiệp chướng rơi lọt vào
trong ba cõi sanh tử nữa nên gọi là vô lậu.
55. Năm món trược
:
1) Kiếp trược : thời gian biến đổi không ngừng có đủ 4 món trược dưới đây :
2) Kiến trược : sự thấy biết sai lầm, tin nhận tà vạy, chính là những món “Lợi sử” vậy.
3) Phiền não trược : tham sân lững lẫy, si mê điên đảo v.v... chính là những món “Ðộn sử’ vậy.
4) Chúng sanh trược : sanh tử, tử sanh nối luôn không dứt.
5) Mạng trược : thọ mạng ngắn ngủi.
1) Kiếp trược : thời gian biến đổi không ngừng có đủ 4 món trược dưới đây :
2) Kiến trược : sự thấy biết sai lầm, tin nhận tà vạy, chính là những món “Lợi sử” vậy.
3) Phiền não trược : tham sân lững lẫy, si mê điên đảo v.v... chính là những món “Ðộn sử’ vậy.
4) Chúng sanh trược : sanh tử, tử sanh nối luôn không dứt.
5) Mạng trược : thọ mạng ngắn ngủi.
56. Bổn duyên : Do lai
duyên sự của mình.
|
KINH DUY-MA-CẬT
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
* * * * *
V. PHẨM VĂN THÙ SƯ LỢI
(1) ... ( Thăm bịnh )
Lúc bấy giờ, Phật bảo
Văn Thù Sư Lợi :
- Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
- Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Văn Thù Sư Lợi bạch Phật
:
- Bạch Thế Tôn ? Bực Thượng nhơn kia khó bề đối đáp, vì ông ấy rất thâm đạt thật tướng, khéo nói pháp mầu, trí tuệ vô ngại, biện tài thông suốt, rõ thấu phương pháp tu trì của tất cả Bồ Tát, thâm nhập kho tạng bí mật của Chư Phật, hàng phục các ma, thần thông tự tại và trí tuệ phương tiện đều đặng rốt ráo. Tuy thế, con xin vưng thánh chỉ của Phật đến thăm bịnh ông.
- Bạch Thế Tôn ? Bực Thượng nhơn kia khó bề đối đáp, vì ông ấy rất thâm đạt thật tướng, khéo nói pháp mầu, trí tuệ vô ngại, biện tài thông suốt, rõ thấu phương pháp tu trì của tất cả Bồ Tát, thâm nhập kho tạng bí mật của Chư Phật, hàng phục các ma, thần thông tự tại và trí tuệ phương tiện đều đặng rốt ráo. Tuy thế, con xin vưng thánh chỉ của Phật đến thăm bịnh ông.
Lúc ấy, trong Ðại chúng
các hàng Bồ Tát và hàng Ðại đệ tử, Ðế Thích, Phạm thiên, Tứ thiên vương đều
nghĩ rằng : “Hôm nay hai vị dại sĩ : Văn Thù Sư Lợi và Duy Ma Cật cùng nhau đàm
luận tất nói pháp mầu”. Tức thời, tám nghìn Bồ Tát, năm trăm Thanh Văn và trăm
nghìn Thiên nhơn đều muốn đi theo.
Bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi
cùng các Bồ Tát, Ðại đệ tử và các hàng Thiên nhơn cung kính đoanh vây đi vào đại
thành Tỳ Da Ly.
Lúc ấy, Trưởng giả Duy
Ma Cật thầm nghĩ : “Nay đây Ngài Văn Thù Sư Lợi cùng đại chúng đồng đến viếng
thăm”. Ông liền dùng sức thần thông làm cho trong nhà trống rỗng, không có vật
chi và cũng không có người thị giả nào, chỉ để một chiếc giường cho ông nằm
bịnh.
Ngài Văn Thù Sư Lợi vào
nhà ông Duy Ma Cật rồi, thấy trong nhà trống rỗng không có vật chi, chỉ có một
mình ông nằm trên giường mà thôi. Khi ấy ông Duy Ma Cật chào rằng :
- Quí hóa thay ! Ngài Văn Thù Sư Lợi mới đến ! Tướng không đến mà đến, tướng không thấy mà thấy.
- Quí hóa thay ! Ngài Văn Thù Sư Lợi mới đến ! Tướng không đến mà đến, tướng không thấy mà thấy.
Ngài Văn Thù Sư Lợi nói
:
- Phải đấy, Cư sĩ ! Nếu đã đến tức là không đến, nếu đã đi tức là không đi. Vì sao ? - Ðến không từ đâu đến, đi không đến nơi đâu, hễ có thấy tức là không thấy. Thôi việc ấy hãy để đó. - Cư sĩ bịnh có chịu nổi được không ? Ðiều trị có bớt không ? Bịnh không đến nỗi tăng ư ? Thế Tôn ân cần hỏi thăm chi xiết. Bịnh Cư sĩ nhơn đâu mà sanh, sanh đã bao lâu phải thế nào mới mạnh được ?. . .
- Phải đấy, Cư sĩ ! Nếu đã đến tức là không đến, nếu đã đi tức là không đi. Vì sao ? - Ðến không từ đâu đến, đi không đến nơi đâu, hễ có thấy tức là không thấy. Thôi việc ấy hãy để đó. - Cư sĩ bịnh có chịu nổi được không ? Ðiều trị có bớt không ? Bịnh không đến nỗi tăng ư ? Thế Tôn ân cần hỏi thăm chi xiết. Bịnh Cư sĩ nhơn đâu mà sanh, sanh đã bao lâu phải thế nào mới mạnh được ?. . .
Ông Duy Ma Cật đáp
:
- Từ nơi si mà có ái, bịnh tôi sanh. Vì tất cả chúng sanh bịnh, nên tôi bịnh. Nếu tất cả chúng sanh không bịnh, thì bịnh tôi lành. Vì sao ? - Bồ Tát vì chúng sanh mà vào đường sanh tử, hễ có sanh tử thời có bịnh, nếu chúng sanh khỏi bịnh thì Bồ Tát không có bịnh. Ví như ông Trưởng giả chỉ có một người con, hễ người con bịnh, thì cha mẹ cũng bịnh, nếu bịnh của con lành, cha mẹ cũng mạnh. Bồ Tát cũng thế ? Ðối với tất cả chúng sanh, thương mến như con, nên chúng sanh bịnh, Bồ Tát cũng bịnh, chúng sanh lành, Bồ Tát cũng lành - Ngài lại hỏi bịnh ấy nhơn đâu mà sanh ? - Bồ Tát có bịnh là do lòng đại bi.
- Từ nơi si mà có ái, bịnh tôi sanh. Vì tất cả chúng sanh bịnh, nên tôi bịnh. Nếu tất cả chúng sanh không bịnh, thì bịnh tôi lành. Vì sao ? - Bồ Tát vì chúng sanh mà vào đường sanh tử, hễ có sanh tử thời có bịnh, nếu chúng sanh khỏi bịnh thì Bồ Tát không có bịnh. Ví như ông Trưởng giả chỉ có một người con, hễ người con bịnh, thì cha mẹ cũng bịnh, nếu bịnh của con lành, cha mẹ cũng mạnh. Bồ Tát cũng thế ? Ðối với tất cả chúng sanh, thương mến như con, nên chúng sanh bịnh, Bồ Tát cũng bịnh, chúng sanh lành, Bồ Tát cũng lành - Ngài lại hỏi bịnh ấy nhơn đâu mà sanh ? - Bồ Tát có bịnh là do lòng đại bi.
Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi
:
- Cư sĩ ? Nhà này vì sao trống không và không có thị giả ?
- Cư sĩ ? Nhà này vì sao trống không và không có thị giả ?
Ông Duy Ma Cật đáp
:
- Cõi nước của chư Phật cũng đều không.
- Lấy gì làm không ?
- Lấy không làm không.
- Ðã không, cần gì phải không ?
- Vì không phân biệt, nên không.
- Không, có thể phân biệt được ư ?
- Phân biệt cũng không.
- Không, phải tìm nơi đâu ?
- Phải tìm trong sáu mươi hai món kiến chấp (2).
- Sáu mươi hai món kiến chấp phải tìm nơi đâu ?
- Phải tìm trong các pháp giải thoát của chư Phật.
- Pháp giải thoát của chư Phật phải tìm nơi dâu ?
- Phải tìm nơi tâm hạnh của tất cả chúng sanh (3).
- Ngài lại hỏi vì sao không thị giả ?
- Tất cả chúng ma và các ngoại đạo đều là thị giả của tôi. Vì sao ? Vì các ma ưa sanh tử, mà Bồ Tát ở nơi sanh tử không bỏ. Còn ngoại đạo ưa các kiến chấp, mà Bồ Tát ở nơi các kiến chấp không động.
- Cõi nước của chư Phật cũng đều không.
- Lấy gì làm không ?
- Lấy không làm không.
- Ðã không, cần gì phải không ?
- Vì không phân biệt, nên không.
- Không, có thể phân biệt được ư ?
- Phân biệt cũng không.
- Không, phải tìm nơi đâu ?
- Phải tìm trong sáu mươi hai món kiến chấp (2).
- Sáu mươi hai món kiến chấp phải tìm nơi đâu ?
- Phải tìm trong các pháp giải thoát của chư Phật.
- Pháp giải thoát của chư Phật phải tìm nơi dâu ?
- Phải tìm nơi tâm hạnh của tất cả chúng sanh (3).
- Ngài lại hỏi vì sao không thị giả ?
- Tất cả chúng ma và các ngoại đạo đều là thị giả của tôi. Vì sao ? Vì các ma ưa sanh tử, mà Bồ Tát ở nơi sanh tử không bỏ. Còn ngoại đạo ưa các kiến chấp, mà Bồ Tát ở nơi các kiến chấp không động.
Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi
:
- Bịnh của Cư sĩ tướng trạng thế nào ?
- Bịnh của Cư sĩ tướng trạng thế nào ?
Ông Duy Ma Cật đáp
:
- Bịnh của tôi không hình, không tướng, không thể thấy được.
- Bịnh ấy hiệp với thân hay hiệp với tâm ?
- Không phải hiệp với thân, vì thân tướng vốn lìa; cũng không phải hiệp với tâm, vì tâm như huyễn.
- Ðịa đại, thủy đại, phong đại, hỏa đại, trong bốn đại bịnh về đại nào ?
- Bịnh ấy không phải địa đại, cũng không lìa địa đại ; thủy, hỏa, phong đại cũng như thế. Nhưng bịnh của chúng sanh là từ nơi tứ đại mà khởi, vì chúng sanh bịnh nên tôi có bịnh.
- Bịnh của tôi không hình, không tướng, không thể thấy được.
- Bịnh ấy hiệp với thân hay hiệp với tâm ?
- Không phải hiệp với thân, vì thân tướng vốn lìa; cũng không phải hiệp với tâm, vì tâm như huyễn.
- Ðịa đại, thủy đại, phong đại, hỏa đại, trong bốn đại bịnh về đại nào ?
- Bịnh ấy không phải địa đại, cũng không lìa địa đại ; thủy, hỏa, phong đại cũng như thế. Nhưng bịnh của chúng sanh là từ nơi tứ đại mà khởi, vì chúng sanh bịnh nên tôi có bịnh.
Khi ấy Ngài Văn Thù Sư
Lợi hỏi ông Duy Ma Cật :
- Phàm Bồ Tát an ủi Bồ Tát có bịnh như thế nào ?
- Phàm Bồ Tát an ủi Bồ Tát có bịnh như thế nào ?
Ông Duy Ma Cật đáp
:
- Nói thân vô thường, không nói nhàm chán thân. Nói thân có khổ, không nói ưa thích Niết bàn. Nói thân vô ngã mà khuyên dạy dắt dìu chúng sanh. Nói thân không tịch, không nói là rốt ráo tịch diệt. Nói ăn năn tội trước, không nói vào nơi quá khứ (4). Lấy bịnh mình mà thương bịnh người. Phải biết cái khổ vô số kiếp trước, phải nghĩ sự lợi ích cho tất cả chúng sanh, nhớ đến việc làm phước, tưởng đến sự sống trong sạch, chớ nên sanh tâm buồn rầu, phải thường khởi lòng tinh tấn, nguyện sẽ làm vị y vương điều trị tất cả bịnh chúng sanh. Bồ Tát phải an ủi Bồ Tát có bịnh như thế để cho được hoan hỷ.
- Nói thân vô thường, không nói nhàm chán thân. Nói thân có khổ, không nói ưa thích Niết bàn. Nói thân vô ngã mà khuyên dạy dắt dìu chúng sanh. Nói thân không tịch, không nói là rốt ráo tịch diệt. Nói ăn năn tội trước, không nói vào nơi quá khứ (4). Lấy bịnh mình mà thương bịnh người. Phải biết cái khổ vô số kiếp trước, phải nghĩ sự lợi ích cho tất cả chúng sanh, nhớ đến việc làm phước, tưởng đến sự sống trong sạch, chớ nên sanh tâm buồn rầu, phải thường khởi lòng tinh tấn, nguyện sẽ làm vị y vương điều trị tất cả bịnh chúng sanh. Bồ Tát phải an ủi Bồ Tát có bịnh như thế để cho được hoan hỷ.
Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi
:
- Cư sĩ ! Bồ Tát có bịnh phải điều phục tâm mình như thế nào ?
- Cư sĩ ! Bồ Tát có bịnh phải điều phục tâm mình như thế nào ?
Ông Duy Ma Cật đáp
:
- Bồ Tát có bịnh phải nghĩ thế này : ta nay bịnh đây đều từ các món phiền não, điên đảo vọng tưởng đời trước sanh ra, là pháp không thật có, lấy ai chịu bịnh đó. Vì sao ? Vì tứ đại hòa hợp giả gọi là thân, mà tứ đại không chủ, thân cũng không ngã. Lại nữa, bịnh này khởi ra đều do chấp ngã (5), vì thế ở nơi ngã không nên sanh lòng chấp đắm. Ðã biết gốc bịnh, trừ ngay ngã tưởng (6) và chúng sanh tưởng (7), phải khởi pháp tưởng (8). Nên nghĩ rằng : “Thân này chỉ do các pháp hiệp thành, khởi chỉ là pháp khởi, diệt chỉ là pháp diệt. Lại các pháp ấy đều không biết nhau, khi khởi không nói nó khởi, khi diệt không nói nó diệt.” Bồ Tát có bịnh muốn trừ diệt pháp tưởng phải nghĩ rằng : “Pháp tưởng này cũng là điên đảo, điên đảo tức là bịnh lớn, ta nên xa lìa nó” – Thế nào là xa lìa ? Lìa ngã và ngã sở – Thế nào là lìa ngã và ngã sở? Là lìa hai pháp – Thế nào là lìa hai pháp ? Là không nghĩ các pháp trong, ngoài (9), mà thật hành theo bình đẳng – Sao gọi bình đẳng ? Là ngã bình đẳng, Niết bàn bình đẳng. Vì sao ? Ngã và Niết bàn hai pháp này đều không – Do đâu mà không ? Vì do văn tự nên không. Như thế, hai pháp không có tánh quyết định. Nếu đặng nghĩa bình đẳng đó, thì không có bịnh chi khác, chỉ còn có bịnh Không, mà bịnh Không cũng không nữa. Vị Bồ Tát có bịnh dùng tâm không thọ mà thọ các món thọ, nếu chưa đầy đủ Phật pháp cũng không diệt thọ mà thủ chứng (10), (như Nhị thừa). Dù thân có khổ, nên nghĩ đến chúng sanh trong ác thú mà khởi tâm đại bi. Ta đã điều phục được tâm ta, cũng nên điều phục cho tất cả chúng sanh. Chỉ trừ bịnh (chấp) mà không trừ pháp, dạy cho dứt trừ gốc bịnh – Sao gọi là gốc bịnh ? Nghĩa là có phan duyên, do có phan duyên mà thành gốc bịnh. Phan duyên nơi đâu? Ở trong ba cõi – Làm thế nào đoạn phan duyên ? Dùng vô sở đắc; nếu vô sở đắc thì không có phan duyên – Sao gọi là vô sở đắc ? Nghĩa là ly hai món chấp – Sao gọi là hai món chấp ? Nghĩa là chấp trong và chấp ngoài (11); ly cả hai đó là vô sở đắc – Ngài Văn Thù Sư Lợi ! Ðó là Bồ Tát có bịnh, điều phục tâm mình để đoạn các khổ : già, bịnh, chết là Bồ Ðề của Bồ Tát. Nếu không như thế chỗ tu hành của mình không được trí tuệ thiện lợi. Ví như người chiến thắng kẻ oán tặc mới là dõng, còn vị nào trừ cả già, bịnh, chết như thế mới gọi là Bồ Tát – Bồ Tát có bịnh nên nghĩ thêm thế này : “Như bịnh của ta đây, không phải là thật, không phải có; bịnh của chúng sanh cũng không phải thật, không phải có”. Khi quán sát như thế, đối với chúng sanh nếu có khởi lòng đại bi ái kiến (12) thì phải bỏ ngay. Vì sao ? –Bồ Tát phải trừ dứt khách trần phiền não (13) mà khởi đại bi, chớ đại bi ái kiến đối với sanh tử có tâm nhàm chán, nếu lìa được ái kiến thì không có tâm nhàm chán, sanh ra nơi nào không bị ái kiến che đậy, không còn bị sự ràng buộc, lại nói pháp cởi mở sự ràng buộc cho chúng sanh nữa. Như Phật nói : “Nếu mình trói mà mở trói cho người khác, không thể được; nếu mình không bị trói mới mở trói cho người khác được”. Vì thế, Bồ Tát không nên khởi những sự ràng buộc – Sao gọi là ràng buộc ? Sao gọi là giải thoát ? Tham đắm nơi thiền vị là Bồ Tát bị ràng buộc. Dùng phương tiện thọ sanh là Bồ Tát được giải thoát. Lại không có phương tiện huệ thì buộc, có phương tiện huệ thì giải, không huệ phương tiện thì buộc, có huệ phương tiện thì giải. Sao gọi không có phương tiện thì buộc ? Bồ Tát dùng ái kiến trang nghiêm Phật độ, thành tựu chúng sanh, ở trong pháp “không, vô tướng, vô tác” mà điều phục lấy mình, đó là không có phương tiện huệ thì buộc – Sao gọi có phương tiện huệ thì giải ? Bồ Tát không dùng ái kiến trang nghiêm Phật độ, thành tựu chúng sanh, ở trong pháp “không, vô tướng, vô tác”, điều phục lấy mình, không nhàm chán mõi mệt, đó là có phương tiện huệ thì giải – Sao gọi là không có huệ phương tiện thì buộc ? Bồ Tát trụ nơi các món phiền não, tham dục, sân hận, tà kiến v.v... mà trồng các cội công đức, đó là không có huệ phương tiện thì buộc – Sao gọi có huệ phương tiện thì giải ? Là xa lìa các thứ phiền não, tham dục, sân hận, tà kiến v.v... mà vun trồng các cội công đức, hồi hướng Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, đó là có huệ phương tiện thì giải – Ngài Văn Thù Sư Lợi ! Bồ Tát có bịnh đấy phải quán sát các pháp như thế (quán phi chơn, phi hữu...). Lại nữa, quán thân vô thường, khổ, không, vô ngã, đó là “huệ”. Dù thân có bịnh vẫn ở trong sanh tử làm lợi ich chúng sanh không nhàm mõi, đó là “phương tiện”. Lại nữa quán thân : thân không rời bịnh, bịnh chẳng rời thân, bịnh này, thân này, không phải mới, không phải cũ, đó là “huệ”. Dù thân có bịnh mà không nhàm chán trọn diệt độ, đó là “phương tiện”.
- Bồ Tát có bịnh phải nghĩ thế này : ta nay bịnh đây đều từ các món phiền não, điên đảo vọng tưởng đời trước sanh ra, là pháp không thật có, lấy ai chịu bịnh đó. Vì sao ? Vì tứ đại hòa hợp giả gọi là thân, mà tứ đại không chủ, thân cũng không ngã. Lại nữa, bịnh này khởi ra đều do chấp ngã (5), vì thế ở nơi ngã không nên sanh lòng chấp đắm. Ðã biết gốc bịnh, trừ ngay ngã tưởng (6) và chúng sanh tưởng (7), phải khởi pháp tưởng (8). Nên nghĩ rằng : “Thân này chỉ do các pháp hiệp thành, khởi chỉ là pháp khởi, diệt chỉ là pháp diệt. Lại các pháp ấy đều không biết nhau, khi khởi không nói nó khởi, khi diệt không nói nó diệt.” Bồ Tát có bịnh muốn trừ diệt pháp tưởng phải nghĩ rằng : “Pháp tưởng này cũng là điên đảo, điên đảo tức là bịnh lớn, ta nên xa lìa nó” – Thế nào là xa lìa ? Lìa ngã và ngã sở – Thế nào là lìa ngã và ngã sở? Là lìa hai pháp – Thế nào là lìa hai pháp ? Là không nghĩ các pháp trong, ngoài (9), mà thật hành theo bình đẳng – Sao gọi bình đẳng ? Là ngã bình đẳng, Niết bàn bình đẳng. Vì sao ? Ngã và Niết bàn hai pháp này đều không – Do đâu mà không ? Vì do văn tự nên không. Như thế, hai pháp không có tánh quyết định. Nếu đặng nghĩa bình đẳng đó, thì không có bịnh chi khác, chỉ còn có bịnh Không, mà bịnh Không cũng không nữa. Vị Bồ Tát có bịnh dùng tâm không thọ mà thọ các món thọ, nếu chưa đầy đủ Phật pháp cũng không diệt thọ mà thủ chứng (10), (như Nhị thừa). Dù thân có khổ, nên nghĩ đến chúng sanh trong ác thú mà khởi tâm đại bi. Ta đã điều phục được tâm ta, cũng nên điều phục cho tất cả chúng sanh. Chỉ trừ bịnh (chấp) mà không trừ pháp, dạy cho dứt trừ gốc bịnh – Sao gọi là gốc bịnh ? Nghĩa là có phan duyên, do có phan duyên mà thành gốc bịnh. Phan duyên nơi đâu? Ở trong ba cõi – Làm thế nào đoạn phan duyên ? Dùng vô sở đắc; nếu vô sở đắc thì không có phan duyên – Sao gọi là vô sở đắc ? Nghĩa là ly hai món chấp – Sao gọi là hai món chấp ? Nghĩa là chấp trong và chấp ngoài (11); ly cả hai đó là vô sở đắc – Ngài Văn Thù Sư Lợi ! Ðó là Bồ Tát có bịnh, điều phục tâm mình để đoạn các khổ : già, bịnh, chết là Bồ Ðề của Bồ Tát. Nếu không như thế chỗ tu hành của mình không được trí tuệ thiện lợi. Ví như người chiến thắng kẻ oán tặc mới là dõng, còn vị nào trừ cả già, bịnh, chết như thế mới gọi là Bồ Tát – Bồ Tát có bịnh nên nghĩ thêm thế này : “Như bịnh của ta đây, không phải là thật, không phải có; bịnh của chúng sanh cũng không phải thật, không phải có”. Khi quán sát như thế, đối với chúng sanh nếu có khởi lòng đại bi ái kiến (12) thì phải bỏ ngay. Vì sao ? –Bồ Tát phải trừ dứt khách trần phiền não (13) mà khởi đại bi, chớ đại bi ái kiến đối với sanh tử có tâm nhàm chán, nếu lìa được ái kiến thì không có tâm nhàm chán, sanh ra nơi nào không bị ái kiến che đậy, không còn bị sự ràng buộc, lại nói pháp cởi mở sự ràng buộc cho chúng sanh nữa. Như Phật nói : “Nếu mình trói mà mở trói cho người khác, không thể được; nếu mình không bị trói mới mở trói cho người khác được”. Vì thế, Bồ Tát không nên khởi những sự ràng buộc – Sao gọi là ràng buộc ? Sao gọi là giải thoát ? Tham đắm nơi thiền vị là Bồ Tát bị ràng buộc. Dùng phương tiện thọ sanh là Bồ Tát được giải thoát. Lại không có phương tiện huệ thì buộc, có phương tiện huệ thì giải, không huệ phương tiện thì buộc, có huệ phương tiện thì giải. Sao gọi không có phương tiện thì buộc ? Bồ Tát dùng ái kiến trang nghiêm Phật độ, thành tựu chúng sanh, ở trong pháp “không, vô tướng, vô tác” mà điều phục lấy mình, đó là không có phương tiện huệ thì buộc – Sao gọi có phương tiện huệ thì giải ? Bồ Tát không dùng ái kiến trang nghiêm Phật độ, thành tựu chúng sanh, ở trong pháp “không, vô tướng, vô tác”, điều phục lấy mình, không nhàm chán mõi mệt, đó là có phương tiện huệ thì giải – Sao gọi là không có huệ phương tiện thì buộc ? Bồ Tát trụ nơi các món phiền não, tham dục, sân hận, tà kiến v.v... mà trồng các cội công đức, đó là không có huệ phương tiện thì buộc – Sao gọi có huệ phương tiện thì giải ? Là xa lìa các thứ phiền não, tham dục, sân hận, tà kiến v.v... mà vun trồng các cội công đức, hồi hướng Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, đó là có huệ phương tiện thì giải – Ngài Văn Thù Sư Lợi ! Bồ Tát có bịnh đấy phải quán sát các pháp như thế (quán phi chơn, phi hữu...). Lại nữa, quán thân vô thường, khổ, không, vô ngã, đó là “huệ”. Dù thân có bịnh vẫn ở trong sanh tử làm lợi ich chúng sanh không nhàm mõi, đó là “phương tiện”. Lại nữa quán thân : thân không rời bịnh, bịnh chẳng rời thân, bịnh này, thân này, không phải mới, không phải cũ, đó là “huệ”. Dù thân có bịnh mà không nhàm chán trọn diệt độ, đó là “phương tiện”.
- Ngài Văn Thù Sư Lợi !
Bồ Tát có bịnh nên điều phục tâm mình như thế, mà không trụ trong đó, cũng
không trụ nơi tâm không điều phục. Vì sao? Nếu trụ nơi tâm không điều phục là
pháp của phàm phu, nếu trụ nơi tâm điều phục là pháp của Thanh Văn, cho nên Bồ
Tát không nên trụ nơi tâm điều phục hay không điều phục, lìa hai pháp ấy là
hạnh Bồ Tát. Ở trong sanh tử mà không bị nhiễm ô, ở nơi Niết bàn mà không diệt
độ hẳn là hạnh Bồ Tát. Không phải hạnh phàm phu, không phải hạnh Hiền thánh là
hạnh Bồ Tát. Không phải hạnh nhơ, không phải hạnh sạch là hạnh Bồ Tát. Tuy vượt
khỏi hạnh ma mà hiện các việc hàng phục ma là hạnh Bồ Tát. Cầu nhứt thiết trí,
không cầu sái thời (14) là hạnh Bồ Tát. Dù quán các pháp không sanh mà không
vào chánh vị (chơn như) là hạnh Bồ Tát. Quán mười hai duyên khởi(15) mà vào các
tà kiến là hạnh Bồ Tát. Nhiếp độ tất cả chúng sanh mà không mê đắm chấp trước là
hạnh Bồ Tát. Ưa xa lìa mà không nương theo sự dứt đoạn thân tâm là hạnh Bồ Tát.
Tuy ở trong ba cõi mà không hoại pháp tánh là hạnh Bồ Tát. Tuy quán “không” mà
gieo trồng các cội công đức là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành vô tướng mà cứu độ
chúng sanh là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành vô tác mà quyền hiện thọ thân là hạnh
Bồ Tát. Dù thật hành vô khởi (16) mà khởi tất cả hạnh lành là hạnh Bồ Tát. Dù
thật hành sáu pháp ba la mật (l7) mà biết khắp các tâm, tâm sở của chúng sanh
là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành sáu pháp thần thông mà không dứt hết lậu hoặc(18)
(phiền não) là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành bốn tâm vô lượng mà không tham đắm
sanh về cõi Phạm Thế (Phạm thiên) là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành thiền định, giải
thoát, tam muội, mà không theo thiền định thọ sanh là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành
bốn pháp niệm xứ mà không hoàn toàn lìa hẳn thân, thọ, tâm, pháp là hạnh Bồ
Tát. Dù thật hành bốn pháp chánh cần mà không rời thân tâm tinh tấn là hạnh Bồ
Tát. Dù thật hành bốn pháp như ý túc mà đặng thần thông tự tại là hạnh Bồ Tát.
Dù thật hành năm căn mà phân biệt rành rẽ các căn lợi độn của chúng sanh là
hạnh Bồ Tát. Dù thật hành năm lực mà ưa cầu thập lực của Phật là hạnh Bồ Tát.
Dù thật hành bảy pháp giác chi mà phân biệt rõ rệt trí tuệ của Phật là hạnh Bồ
Tát. Dù thật hành tám pháp chánh đạo mà ưa tu vô lượng Phật đạo là hạnh Bồ Tát.
Dù thật hành các pháp chỉ quán trợ đạo mà trọn không thiên hẳn nơi tịch diệt
(Niết bàn) là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành các pháp bất sanh bất diệt, mà dùng
tướng hảo trang nghiêm thân mình là hạnh Bồ Tát. Dù hiện oai nghi theo Thanh
Văn, Duyên Giác mà không rời Phật pháp là hạnh Bồ Tát. Dù tùy theo tướng hoàn
toàn thanh tịnh của các pháp mà tùy theo chỗ sở ứng hiện thân là hạnh Bồ Tát.
Dù quán sát cõi nước của chư Phật trọn vắng lặng như hư không mà hiện ra rất
nhiều cõi Phật thanh tịnh là hạnh Bồ Tát. Dù chứng đặng quả Phật, chuyển Pháp
luân, nhập Niết bàn mà không bỏ đạo Bồ Tát là hạnh Bồ Tát vậy.
Khi ông Duy Ma Cật nói
những lời ấy rồi, cả đại chúng đi theo ngài Văn Thù Sư Lợi, trong đó tám nghìn
vị Thiên tử đều phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Chú thích của phẩm V
1. Văn Thù Sư Lợi :
(Manjusri) Tàu dịch là Diệu Ðức, nghĩa là đầy đủ ba đức lớn : 1)Tín, 2)Hạnh,
3)Trí. Ngài chứng đặng thật trí, liễu ngộ Phật tánh, thông đạt chỗ huyền bí của
các pháp, nên đứng đầu trong hàng môn sanh của Phật.
2. 62 món kiến chấp : Ðã
giải ở phẩm III số 43.
3. Tìm nơi tâm hạnh của
chúng sanh : Ý nói giải thoát triền phược đồng một chơn tánh, nên không phải
ngoài vọng có chơn, ngoài phàm phu triền phược mà có chư Phật giải thoát.
4. Vào nơi quá khứ : Ý
nói an ủi vị Bồ Tát có bịnh ăn năn lỗi trước, nhưng không nói lỗi ấy có thật
tánh thường còn đi vào nơi quá khứ, vì muốn phá trừ các tướng chấp thường
kia.
5. Chấp ngã : Quan niệm
thân tâm là thật.
6. Ngã tưởng : vọng
tưởng so đo suy nghĩ cho thân tâm có cái chủ tể thường còn chơn thật.
7. Chúng sanh tưởng :
vọng tưởng cố chấp cho chúng sanh là thực có.
8. Pháp tưởng : Tưởng
niệm các pháp do nhơn duyên hợp thành, không tự chủ, không thật có.
9. Pháp trong và ngoài :
Là căn, trần, hay tâm, cảnh.
10. Diệt thọ thủ chứng :
Nhập diệt tận định, dứt hết các tâm niệm tư tưởng xúc, thọ để chứng lấy cảnh
Niết bàn an vui. Tức lối cầu chứng của hàng Nhị thừa, vì thấy cảnh vật phiền
tạp, chúng sanh vô số điên đảo khó bề giáo hóa chuyển đổi được, nên lánh vào
cảnh giới an lặng riêng vui.
11. Chấp trong và chấp
ngoài : Trong là vọng tưởng, ngoài là các pháp. Cả hai đều là hư vọng giả dối,
nên trọn không chỗ đặng.
12. Ðại bi ái kiến : Là
thấy có chúng sanh khổ sanh tâm ái trước, mà khởi lòng đại bi ra sức tế độ. Ðó
là các hàng Bồ Tát quyền thừa chưa dứt trừ phiền não, còn mê sự mê lý, mà vận
lòng từ bi ra cứu độ chúng sanh nên còn chấp tướng người bị độ, mình hay độ,
thường sanh ra tư tưởng nhàm chán mỏi mệt.
13. Khách trần phiền não
: Phiền não tánh cách nó không chơn thật thường hằng, khi khởi khi diệt, cũng
như người khách thường qua lại đó đây, không phải thường an trú như chủ gia;
lại nó như bụi trần thường xao động luôn, không đứng lặng như hư không, gọi là
khách trần phiền não.
14. Không cầu sái thời :
Chưa được nhứt thiết trí mà cầu chứng bản thể trung đạo là cầu sái thời, nếu
trái lại là không cầu sái thời.
15. Mười hai duyên khởi
: Tức là 12 nhơn duyên phối hợp sanh khởi các pháp :
1) Vô minh : không rõ được bổn tánh.
2) Hành : Hành nghiệp là những nghiệp lực phiền não trong tâm niệm.
3) Thức : chỉ cho A lại da thức.
4) Danh sắc : các cảm giác tư tưởng về phần tâm và các căn về hình sắc.
5) Lục nhập : Sáu căn nhập với sáu trần.
6) Xúc : Sáu căn xúc đối sáu trần.
7) Thọ : Lãnh nạp những cảnh tốt xấu khổ vui.
8) Ái : Tham mến những vật tốt đẹp.
9) Thủ : Ðắm trước tham cầu những cảnh ngũ trần.
10) Hữu : vì sự tham cầu nên tạo những nghiệp nhân thiện, ác, phải chịu quả báo trong ba cõi.
11) Sanh : Do nghiệp nhân thiện, ác, nên phải thọ sanh trong sáu đường.
12) Lão tử : Sau khi thọ sanh, thân ngũ ấm lần lần già chết.
1) Vô minh : không rõ được bổn tánh.
2) Hành : Hành nghiệp là những nghiệp lực phiền não trong tâm niệm.
3) Thức : chỉ cho A lại da thức.
4) Danh sắc : các cảm giác tư tưởng về phần tâm và các căn về hình sắc.
5) Lục nhập : Sáu căn nhập với sáu trần.
6) Xúc : Sáu căn xúc đối sáu trần.
7) Thọ : Lãnh nạp những cảnh tốt xấu khổ vui.
8) Ái : Tham mến những vật tốt đẹp.
9) Thủ : Ðắm trước tham cầu những cảnh ngũ trần.
10) Hữu : vì sự tham cầu nên tạo những nghiệp nhân thiện, ác, phải chịu quả báo trong ba cõi.
11) Sanh : Do nghiệp nhân thiện, ác, nên phải thọ sanh trong sáu đường.
12) Lão tử : Sau khi thọ sanh, thân ngũ ấm lần lần già chết.
16. Vô khởi : Cũng gọi
là Vô sanh. Quán các pháp như huyễn như hóa, không có cái nhơn sanh khởi.
17. Sáu pháp Ba la mật
:
1) Bố thí,
2) Trì giới,
3)Nhẫn nhục,
4) Tinh tấn,
5) Thiền định,
6) Trí tuệ.
1) Bố thí,
2) Trì giới,
3)Nhẫn nhục,
4) Tinh tấn,
5) Thiền định,
6) Trí tuệ.
18. Lậu hoặc : Các phiền
não mê lầm làm cho rơi lọt trong 3 cõi.
|
KINH DUY-MA-CẬT
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
* * * * *
VII. PHẨM QUÁN CHÚNG
SANH (1)
Lúc bấy giờ Ngài Văn Thù
Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật rằng :
- Bồ Tát quán sát chúng sanh phải thế nào ?
- Bồ Tát quán sát chúng sanh phải thế nào ?
Ông Duy Ma Cật đáp
:
- Ví như nhà huyễn thuật thấy người huyễn của mình hóa ra, Bồ Tát quán sát chúng sanh cũng như thế. Như người trí thấy trăng dưới nước, thấy mặt trong gương, như ánh nắng dợn, như vang của tiếng, như mây giữa hư không, như bọt nước, như bóng nổi, như cây chuối bền chắc, như chớp dừng lâu, như đại thứ năm(2), như ấm thứ sáu(3), như tình (căn) thứ bảy(4), như nhập thứ mười ba(5), như giới thứ mười chín(6). Bồ Tát quán sát chúng sanh cũng như thế. Như sắc chất cõi vô sắc(7), như mộng lúa hư, như thân kiến của Tu đà hoàn(8), như sự nhập thai của A na hàm(9), như tam độc của A la hán (10), như tham giận phá giới của Bồ Tát chứng vô sanh nhãn, như tập khí phiền não của Phật, như người mù thấy sắc tượng, như hơi thở ra vào của người nhập diệt tận định(11), như dấu chim giữa hư không, như con của đàn bà không sanh đẻ (Thạch nữ)(12), như phiền não của người huyễn hóa, như cảnh chiêm bao khi đã thức, như người diệt độ thọ lấy thân, như lửa không khói. Bồ Tát quán sát chúng sanh cũng như thế đó.
- Ví như nhà huyễn thuật thấy người huyễn của mình hóa ra, Bồ Tát quán sát chúng sanh cũng như thế. Như người trí thấy trăng dưới nước, thấy mặt trong gương, như ánh nắng dợn, như vang của tiếng, như mây giữa hư không, như bọt nước, như bóng nổi, như cây chuối bền chắc, như chớp dừng lâu, như đại thứ năm(2), như ấm thứ sáu(3), như tình (căn) thứ bảy(4), như nhập thứ mười ba(5), như giới thứ mười chín(6). Bồ Tát quán sát chúng sanh cũng như thế. Như sắc chất cõi vô sắc(7), như mộng lúa hư, như thân kiến của Tu đà hoàn(8), như sự nhập thai của A na hàm(9), như tam độc của A la hán (10), như tham giận phá giới của Bồ Tát chứng vô sanh nhãn, như tập khí phiền não của Phật, như người mù thấy sắc tượng, như hơi thở ra vào của người nhập diệt tận định(11), như dấu chim giữa hư không, như con của đàn bà không sanh đẻ (Thạch nữ)(12), như phiền não của người huyễn hóa, như cảnh chiêm bao khi đã thức, như người diệt độ thọ lấy thân, như lửa không khói. Bồ Tát quán sát chúng sanh cũng như thế đó.
Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi
:
- Nếu Bồ Tát quán sát như thế phải thật hành lòng từ thế nào ?
- Nếu Bồ Tát quán sát như thế phải thật hành lòng từ thế nào ?
Ông Duy Ma Cật đáp rằng
:
- Bồ Tát quán sát như thế rồi phải tự nghĩ rằng : “Ta phải vì chúng sanh nói pháp như trên, đó là lòng từ chân thật. Thật hành lòng từ tịch diệt, bởi vì không sanh. Thật hành lòng từ không nóng bức, bởi không có phiền não. Thật hành lòng từ bình đẳng, bởi ba đời như nhau. Thật hành lòng từ không đua tranh, bởi không có khởi. Thật hành lòng từ không hai, bởi trong ngoài (căn trần) không hiệp. Thật hành lòng từ không hoại, bởi hoàn toàn không còn. Thật hành lòng từ kiên cố, bởi lòng không hủy hoại. Thật hành lòng từ thanh tịnh, bởi tánh các pháp trong sạch. Thật hành lòng từ vô biên, vì như hư không. Thật hành lòng từ A la hán, vì phá các giặc kiết sử(13). Thật hành lòng từ Bồ Tát, vì an vui chúng sanh. Thật hành lòng từ Như Lai, vì đặng tướng như như. Thật hành lòng từ của Phật, vì giác ngộ chúng sanh. Thật hành lòng từ tự nhiên, vì không nhơn đâu mà đặng. Thật hành lòng từ Bồ Ðề, chỉ có một vị. Thật hành lòng từ vô đẳng (không chi sánh bằng), vì đoạn các ái kiến. Thật hành lòng từ đại bi, dẫn dạy cho pháp Ðại thừa. Thật hành lòng từ không nhàm mỏi, quán không, vô ngã. Thật hành lòng từ pháp thí, không có luyến tiếc. Thật hành lòng từ trì giới, để hóa độ người phá giới. Thật hành lòng từ nhẫn nhục, để ủng hộ người và mình. Thật hành lòng từ tinh tấn, để gánh vác chúng sanh. Thật hành lòng từ thiền định, không thọ mùi thiền. Thật hành lòng từ trí tuệ, đều biết đúng nhịp. Thật hành lòng từ phương tiện, thị hiện tất cả. Thật hành lòng từ không ẩn dấu, lòng ngay trong sạch. Thật hành lòng từ thâm tâm, không có hạnh xen tạp. Thật hành lòng từ không phỉnh dối, không có lừa gạt. Thật hành lòng từ an vui, làm cho tất cả được sự an vui của Phật. Lòng từ của Bồ Tát là như thế đó.
- Bồ Tát quán sát như thế rồi phải tự nghĩ rằng : “Ta phải vì chúng sanh nói pháp như trên, đó là lòng từ chân thật. Thật hành lòng từ tịch diệt, bởi vì không sanh. Thật hành lòng từ không nóng bức, bởi không có phiền não. Thật hành lòng từ bình đẳng, bởi ba đời như nhau. Thật hành lòng từ không đua tranh, bởi không có khởi. Thật hành lòng từ không hai, bởi trong ngoài (căn trần) không hiệp. Thật hành lòng từ không hoại, bởi hoàn toàn không còn. Thật hành lòng từ kiên cố, bởi lòng không hủy hoại. Thật hành lòng từ thanh tịnh, bởi tánh các pháp trong sạch. Thật hành lòng từ vô biên, vì như hư không. Thật hành lòng từ A la hán, vì phá các giặc kiết sử(13). Thật hành lòng từ Bồ Tát, vì an vui chúng sanh. Thật hành lòng từ Như Lai, vì đặng tướng như như. Thật hành lòng từ của Phật, vì giác ngộ chúng sanh. Thật hành lòng từ tự nhiên, vì không nhơn đâu mà đặng. Thật hành lòng từ Bồ Ðề, chỉ có một vị. Thật hành lòng từ vô đẳng (không chi sánh bằng), vì đoạn các ái kiến. Thật hành lòng từ đại bi, dẫn dạy cho pháp Ðại thừa. Thật hành lòng từ không nhàm mỏi, quán không, vô ngã. Thật hành lòng từ pháp thí, không có luyến tiếc. Thật hành lòng từ trì giới, để hóa độ người phá giới. Thật hành lòng từ nhẫn nhục, để ủng hộ người và mình. Thật hành lòng từ tinh tấn, để gánh vác chúng sanh. Thật hành lòng từ thiền định, không thọ mùi thiền. Thật hành lòng từ trí tuệ, đều biết đúng nhịp. Thật hành lòng từ phương tiện, thị hiện tất cả. Thật hành lòng từ không ẩn dấu, lòng ngay trong sạch. Thật hành lòng từ thâm tâm, không có hạnh xen tạp. Thật hành lòng từ không phỉnh dối, không có lừa gạt. Thật hành lòng từ an vui, làm cho tất cả được sự an vui của Phật. Lòng từ của Bồ Tát là như thế đó.
Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi
:
- Sao gọi là lòng bi ?
- Bồ Tát làm công đức gì cốt để cho chúng sanh.
- Sao gọi là lòng hỷ ?
- Có lợi ích đều hoan hỷ, không hối hận.
- Sao gọi là lòng xả ?
- Những phước báu đã làm, không có lòng hy vọng.
- Sao gọi là lòng bi ?
- Bồ Tát làm công đức gì cốt để cho chúng sanh.
- Sao gọi là lòng hỷ ?
- Có lợi ích đều hoan hỷ, không hối hận.
- Sao gọi là lòng xả ?
- Những phước báu đã làm, không có lòng hy vọng.
Ngài Văn Thù Sư Lợi lại
hỏi :
- Sự sanh tử đáng sợ, Bồ Tát phải y nơi đâu ?
- Sự sanh tử đáng sợ, Bồ Tát phải y nơi đâu ?
Ông Duy Ma Cật đáp
:
- Bồ Tát ở trong sanh tử đáng sợ đó, phải y nơi sức công đức của Như Lai.
- Bồ Tát ở trong sanh tử đáng sợ đó, phải y nơi sức công đức của Như Lai.
Ngài Văn Thù Sư Lợi lại
hỏi :
- Bồ Tát muốn y sức công đức của Như Lai, phải trụ nơi đâu ?
- Bồ Tát muốn y sức công đức của Như Lai, phải trụ nơi chỗ độ thoát tất cả chúng sanh.
- Bồ Tát muốn y sức công đức của Như Lai, phải trụ nơi đâu ?
- Bồ Tát muốn y sức công đức của Như Lai, phải trụ nơi chỗ độ thoát tất cả chúng sanh.
Lại hỏi :
- Muốn độ chúng sanh phải trừ những gì ?
- Muốn độ chúng sanh phải trừ phiền não.
- Muốn trừ phiền não phải thật hành những gì ?
- Phải thật hành chánh niệm.
- Thế nào là thật hành chánh niệm ?
- Phải thật hành pháp không sanh không diệt.
- Pháp gì không sanh, pháp gì không diệt ?
- Pháp bất thiện không sanh, pháp thiện không diệt.
- Pháp thiện và pháp bất thiện lấy gì làm gốc ?
- Thân là gốc.
- Thân lấy gì làm gốc ?
- Tham dục là gốc.
- Tham dục lấy gì làm gốc ?
- Hư vọng phân biệt là gốc.
- Hư vọng phân biệt lấy gì làm gốc ?
- Tưởng điên đảo là gốc.
- Tưởng điên đảo lấy gì làm gốc ?
- Không trụ(14) là gốc.
- Không trụ lấy gì làm gốc ?
- Không trụ thì không gốc.
Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi, ở nơi “gốc không trụ mà lập tất cả pháp”.
- Muốn độ chúng sanh phải trừ những gì ?
- Muốn độ chúng sanh phải trừ phiền não.
- Muốn trừ phiền não phải thật hành những gì ?
- Phải thật hành chánh niệm.
- Thế nào là thật hành chánh niệm ?
- Phải thật hành pháp không sanh không diệt.
- Pháp gì không sanh, pháp gì không diệt ?
- Pháp bất thiện không sanh, pháp thiện không diệt.
- Pháp thiện và pháp bất thiện lấy gì làm gốc ?
- Thân là gốc.
- Thân lấy gì làm gốc ?
- Tham dục là gốc.
- Tham dục lấy gì làm gốc ?
- Hư vọng phân biệt là gốc.
- Hư vọng phân biệt lấy gì làm gốc ?
- Tưởng điên đảo là gốc.
- Tưởng điên đảo lấy gì làm gốc ?
- Không trụ(14) là gốc.
- Không trụ lấy gì làm gốc ?
- Không trụ thì không gốc.
Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi, ở nơi “gốc không trụ mà lập tất cả pháp”.
Bấy giờ trong nhà ông
Duy Ma Cật có một Thiên nữ thấy các vị trời, người đến nghe pháp, liền hiện
thân ra tung rải hoa trời trên mình các vị Bồ Tát và Ðại đệ tử. Khi hoa đến
mình các vị Bồ Tát đều rơi hết, đến các vị Ðại đệ tử đều mắc lại. Các vị Ðại đệ
tử dùng hết thần lực phủi hoa mà hoa cũng không rớt.
Lúc ấy, Thiên nữ hỏi
Ngài Xá Lợi Phất :
- Tự sao mà phủi hoa ?
- Tự sao mà phủi hoa ?
Xá Lợi Phất nói :
- Hoa này không như pháp nên phủi.
- Hoa này không như pháp nên phủi.
- Chớ bảo hoa này là
không như pháp. Vì sao ? Hoa này nó không có phân biệt, tự Nhân giả phân biệt
đó thôi ! Nếu người xuất gia ở trong Phật pháp có phân biệt là không như pháp,
nếu không phân biệt là như pháp. Ðấy, xem các vị Bồ Tát, hoa có dính đâu ? Vì
đã đoạn hết tưởng phân biệt. Ví như người lúc hồi hộp sợ, thời phi nhơn mới
thừa cơ hại đặng. Như thế, các vị Ðại đệ tử vì sợ sanh tử nên sắc thinh, hương,
vị, xúc mới thừa cơ được, còn người đã lìa được sự sợ sệt thì tất cả năm món
dục không làm chi đặng. Do tập khí kiết sử chưa dứt hết nên hoa mới mắc nơi
thân thôi, còn người kiết tập(15) hết rồi, hoa không mắc được.
Ngài Xá Lợi Phất nói
:
- Thiên nữ ở nhà này đã được bao lâu ?
- Tôi ở nhà này như Ngài được giải thoát.
- Ở đây đã lâu ư ?
- Ngài giải thoát cũng lâu như thế nào ?
- Thiên nữ ở nhà này đã được bao lâu ?
- Tôi ở nhà này như Ngài được giải thoát.
- Ở đây đã lâu ư ?
- Ngài giải thoát cũng lâu như thế nào ?
Ngài Xá Lợi Phất nín
lặng không đáp.
Thiên nữ nói :
- Tại sao bực kỳ cựu(16) đại trí lại nín lặng ?
Thiên nữ nói :
- Tại sao bực kỳ cựu(16) đại trí lại nín lặng ?
- Giải thoát không có
ngôn thuyết, nên ở nơi đó ta không biết nói làm sao !
Thiên nữ nói :
- Ngôn thuyết văn tự đều là tướng giải thoát. Vì sao ? Vì giải thoát không ở trong, không ở ngoài, không ở hai bên, văn tự cũng không ở trong, không ở ngoài, không ở hai bên. Thế nên, Ngài Xá Lợi Phất, chớ rời văn tự mà nói giải thoát. Vì sao ? Vì tất cả pháp là tướng giải thoát.
- Ngôn thuyết văn tự đều là tướng giải thoát. Vì sao ? Vì giải thoát không ở trong, không ở ngoài, không ở hai bên, văn tự cũng không ở trong, không ở ngoài, không ở hai bên. Thế nên, Ngài Xá Lợi Phất, chớ rời văn tự mà nói giải thoát. Vì sao ? Vì tất cả pháp là tướng giải thoát.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi
:
- Không cần ly dâm, nộ, si, được giải thoát ư ?
- Không cần ly dâm, nộ, si, được giải thoát ư ?
Thiên nữ nói :
- Phật vì kẻ tăng thượng mạn nói ly dâm, nộ, si là giải thoát thôi, nếu kẻ không tăng thượng mạn thời Phật nói tánh của dâm nộ, si là giải thoát.
- Phật vì kẻ tăng thượng mạn nói ly dâm, nộ, si là giải thoát thôi, nếu kẻ không tăng thượng mạn thời Phật nói tánh của dâm nộ, si là giải thoát.
Ngài Xá Lợi Phất nói
:
- Hay thay, hay thay, Thiên nữ ! Nàng được cái gì, chứng cái gì mà biện tài như thế ?
- Hay thay, hay thay, Thiên nữ ! Nàng được cái gì, chứng cái gì mà biện tài như thế ?
Thiên nữ nói :
- Tôi không được, không chứng, mới được biện tài như thế. Vì sao ? -Nếu có được, có chứng thời ở trong Phật pháp là kẻ tăng thượng mạn(17).
- Tôi không được, không chứng, mới được biện tài như thế. Vì sao ? -Nếu có được, có chứng thời ở trong Phật pháp là kẻ tăng thượng mạn(17).
Ngài Xá Lợi Phất hỏi
Thiên nữ :
- Ở trong ba thừa(18) , ý nàng cầu thừa nào ?
- Ở trong ba thừa(18) , ý nàng cầu thừa nào ?
Thiên nữ nói :
- Cần pháp Thanh Văn để hóa độ chúng sanh, tôi làm Thanh Văn; cần pháp nhơn duyên để hóa độ chúng sanh, tôi làm Bích Chi Phật, cần pháp đại bi để hóa độ chúng sanh, tôi làm Ðại thừa. Thưa Ngài Xá Lợi Phất ! Như người vào rừng chiêm bặc(19), chỉ ngửi có mùi chiêm bặc, chứ không còn mùi hương nào khác. Cũng như người vào nhà này chỉ ngửi mùi hương công đức của Phật chớ không ưa ngửi mùi hương công đức của Thanh Văn và Bích Chi Phật.
- Cần pháp Thanh Văn để hóa độ chúng sanh, tôi làm Thanh Văn; cần pháp nhơn duyên để hóa độ chúng sanh, tôi làm Bích Chi Phật, cần pháp đại bi để hóa độ chúng sanh, tôi làm Ðại thừa. Thưa Ngài Xá Lợi Phất ! Như người vào rừng chiêm bặc(19), chỉ ngửi có mùi chiêm bặc, chứ không còn mùi hương nào khác. Cũng như người vào nhà này chỉ ngửi mùi hương công đức của Phật chớ không ưa ngửi mùi hương công đức của Thanh Văn và Bích Chi Phật.
Thưa Ngài Xá Lợi Phất !
Có những vị Ðế thích Phạm Vương, Tứ Thiên Vương và chư Thiên, long thần, quỉ cả
thảy vào trong nhà này nghe Thượng nhân đây giảng nói chánh pháp, đều ưa mùi
hương công đức của Phật phát tâm rồi ra.
Thưa Ngài Xá Lọi Phất,
tôi ở nhà này đã mười hai năm chưa từng nghe nói pháp Thanh Văn, Bích chi Phật,
Chỉ nghe đại từ đại bi của Bồ Tát và những pháp bất khả tư nghị của chư Phật.
Thưa Ngài Xá Lợi Phất ! Nhà này thường hiện ra tám pháp “chưa từng có, khó
đặng”. Tám pháp là gì ?
Nhà này thường dùng ánh
sáng sắc vàng soi chiếu ngày đêm không khác, chẳng cần ánh sáng của nhật nguyệt
soi chiếu, đó là pháp “chưa từng có, khó đặng” thứ nhất, – Nhà này hễ ai vào
rồi không còn bị các thứ cấu nhiễm làm não loạn, đó là pháp “chưa từng có khó
đặng” thứ hai. – Nhà này thường có các vị Ðế Thích, Phạm Thiên, Tứ Thiên Vương
và các Bồ Tát ở phương khác nhóm họp không ngớt, đó là pháp “chưa từng có, khó
đặng” thứ ba. – Nhà này thường nói sáu pháp Ba la mật và pháp bất thối chuyển,
đó là pháp “chưa từng có, khó đặng” thứ tư. Nhà này thường trổi âm nhạc bực nhứt
của trời, người, vang ra vô lượng tiếng pháp, đó là pháp “chưa từng có, khó
đặng” thứ năm. – Nhà này có bốn kho tàng lớn chứa đầy các món báu, giúp khắp
cho kẻ nghèo thiếu, hễ cầu liền được không bao giờ hết, đó là pháp “chưa từng
có, khó đặng” thứ sáu. – Nhà này Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Ðà, Phật A
Súc, Phật Bửu Ðức, Phật Bửu Diệm, Phật Bửu Nguyệt, Phật Bửu Nghiêm, Phật Nan
Thắng, Phật Sư Tử Hướng, Phật Nhứt Thiết Lợi Thành, vô lượng chư Phật trong 10
phương, khi Thượng Nhân đây niệm đến liền hiện tới rộng nói tạng pháp bí yếu
của chư Phật, khi nói xong các Ngài đều trở về, đó là pháp “chưa từng có, khó
đặng” thứ bảy. – Nhà này tất cả cung điện tốt đẹp của chư Thiên và các cõi Tịnh
độ của chư Phật đều hiện ở trong đây, đó là pháp “chưa từng có, khó đặng” thứ
tám.
Thưa Ngài Xá Lợi Phất !
Nhà này thường hiện ra 8 pháp “chưa từng có, khó đặng” như thế, ai thấy được
việc không thể nghĩ bàn đó mà lại còn ham ưa pháp Thanh Văn ư ?
Ngài Xá Lợi Phất nói :
- Vì sao ngươi không chuyển thân nữ kia đi ?
Ngài Xá Lợi Phất nói :
- Vì sao ngươi không chuyển thân nữ kia đi ?
Thiên nữ nói :
- Mười hai năm nay tìm kiếm mãi cái tướng nữ nhơn hẳn không thể đặng, phải chuyển đổi cái gì ? Ví như nhà huyễn thuật hóa ra một người nữ huyễn, nếu có người hỏi rằng : Sao không chuyển thân nữ đó đi ? Vậy người hỏi đó có đúng chăng ?
- Mười hai năm nay tìm kiếm mãi cái tướng nữ nhơn hẳn không thể đặng, phải chuyển đổi cái gì ? Ví như nhà huyễn thuật hóa ra một người nữ huyễn, nếu có người hỏi rằng : Sao không chuyển thân nữ đó đi ? Vậy người hỏi đó có đúng chăng ?
Ngài Xá Lọi Phất nói
:
- Không đúng. Huyễn hóa không có tướng nhứt định còn phải chuyển đổi gì nữa.
- Không đúng. Huyễn hóa không có tướng nhứt định còn phải chuyển đổi gì nữa.
Thiên nữ nói :
- Tất cả pháp cũng như thế, không có tướng nhứt định, tại sao lại hỏi không chuyển thân nữ ?
- Tất cả pháp cũng như thế, không có tướng nhứt định, tại sao lại hỏi không chuyển thân nữ ?
Tức thời Thiên nữ dùng
sức thần thông biến Ngài Xá Lợi Phất thành ra Thiên nữ, Thiên nữ lại tự hóa
mình giống như Ngài Xá Lợi Phất mà hỏi rắng : Tại sao Ngài không chuyển thân nữ
đi ?
Ngài Xá Lợi Phất mang
lấy hình tướng thân nữ mà đáp rằng :
- Ta nay không biết tại sao lại biến thành thân đàn bà này ?
- Ta nay không biết tại sao lại biến thành thân đàn bà này ?
Thiên nữ nói :
- Thưa Ngài Xá Lợi Phất ? Nếu Ngài chuyển được thân đàn bà đó, thời tất cả người nữ cũng sẽ chuyển được. Như Ngài Xá Lợi Phất không phải người nữ mà hiện thân nữ, thời tất cả người nữ cũng lại như thế, tuy là hiện thân nữ mà không phải người nữ đâu. Vì thế, Phật nói : tất cả các pháp không phải đàn ông, không phải đàn bà.
- Thưa Ngài Xá Lợi Phất ? Nếu Ngài chuyển được thân đàn bà đó, thời tất cả người nữ cũng sẽ chuyển được. Như Ngài Xá Lợi Phất không phải người nữ mà hiện thân nữ, thời tất cả người nữ cũng lại như thế, tuy là hiện thân nữ mà không phải người nữ đâu. Vì thế, Phật nói : tất cả các pháp không phải đàn ông, không phải đàn bà.
Bấy giờ Thiên nữ thu
nhiếp thần lực, thân Ngài Xá Lợi Phất trở lại như cũ. Thiên nữ hỏi Ngài Xá Lợi
Phất:
- Tướng đàn bà bây giờ ở đâu ?
- Tướng đàn bà bây giờ ở đâu ?
Ngài Xá Lợi Phất đáp
:
- Tướng đàn bà không ở đâu, mà ở tất cả.
- Tướng đàn bà không ở đâu, mà ở tất cả.
Thiên nữ nói :
- Tất cả pháp lại cũng như thế, không ở đâu mà ở tất cả. Vả lại không ở đâu mà ở tất cả là lời Phật nói.
- Tất cả pháp lại cũng như thế, không ở đâu mà ở tất cả. Vả lại không ở đâu mà ở tất cả là lời Phật nói.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi
Thiên nữ :
- Nàng ở nơi đây chết rồi sẽ sanh nơi đâu ?
- Nàng ở nơi đây chết rồi sẽ sanh nơi đâu ?
Thiên nữ đáp :
- Phật hóa sanh thế nào, tôi cũng hóa sanh thế ấy.
- Phật hóa sanh thế nào, tôi cũng hóa sanh thế ấy.
Ngài Xá Lợi Phất nói
:
- Phật hóa sanh không phải chết rồi mới sanh.
- Phật hóa sanh không phải chết rồi mới sanh.
Thiên nữ nói :
- Chúng sanh cũng thế, không phải chết rồi mới sanh.
- Chúng sanh cũng thế, không phải chết rồi mới sanh.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi
Thiên nữ :
- Ngươi bao lâu sẽ chứng được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác ?
- Ngươi bao lâu sẽ chứng được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác ?
Thiên nữ đáp :
- Khi nào Ngải Xá Lợi Phất trở lại phàm phu, tôi sẽ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
- Khi nào Ngải Xá Lợi Phất trở lại phàm phu, tôi sẽ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Ngài Xá Lợi Phất nói
:
- Có khi nào ta trở lại phàm phu.
- Có khi nào ta trở lại phàm phu.
Thiên nữ nói :
- Có khi nào tôi lại được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vì sao? – Vì Bồ Ðề không xứ sở nên không có được.
- Có khi nào tôi lại được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vì sao? – Vì Bồ Ðề không xứ sở nên không có được.
Ngài Xá Lợi Phất nói
:
- Hiện nay các Phật chứng Bồ Ðế vô thượng (A nậu đa la tam miệu tam bồ đề), các Phật đã chứng, sẽ chứng nhiều như số cát sông Hằng thời gọi là gì ?
- Hiện nay các Phật chứng Bồ Ðế vô thượng (A nậu đa la tam miệu tam bồ đề), các Phật đã chứng, sẽ chứng nhiều như số cát sông Hằng thời gọi là gì ?
Thiên nữ đáp :
- Ðấy là theo số mục văn tự ở đời mà nói có 3 đời, chớ không phải nói Bồ Ðề có quá khứ, vị lai và hiện tại.
- Thưa Ngài Xá Lợi Phất ! Ngài đặng đạo A la hán ư ?
- Ðấy là theo số mục văn tự ở đời mà nói có 3 đời, chớ không phải nói Bồ Ðề có quá khứ, vị lai và hiện tại.
- Thưa Ngài Xá Lợi Phất ! Ngài đặng đạo A la hán ư ?
Ðáp : Không có đặng mà
đặng.
Thiên nữ nói :
Các Phật, Bồ Tát cũng như thế, không đặng mà đặng.
Thiên nữ nói :
Các Phật, Bồ Tát cũng như thế, không đặng mà đặng.
Bấy giờ ông Duy Ma Cật
bảo ngài Xá Lợi Phất :
- Thiên nữ này đã từng cúng dường 92 ức Đức Phật, đã được thần thông du hý của Bồ Tát, nguyện lực đầy đủ, chứng vô sanh nhẫn không có thối lui, vì theo bổn nguyện nên tùy ý mà hiện ra để giáo hóa chúng sanh.
- Thiên nữ này đã từng cúng dường 92 ức Đức Phật, đã được thần thông du hý của Bồ Tát, nguyện lực đầy đủ, chứng vô sanh nhẫn không có thối lui, vì theo bổn nguyện nên tùy ý mà hiện ra để giáo hóa chúng sanh.
Chú thích của phẩm VII
1. Chúng sanh : Có ba
nghĩa :
1) Tất cả loài có sự sống đều gọi là chúng sanh, như các loài động vật và thực vật, hữu tình và vô tình.
2) Chúng có nghĩa là rất nhiều ; Sanh nghĩa là sanh khởi : do năm ấm, các duyên hòa hợp thành những vật có sự sống tương tục, gọi là chúng sanh.
3) Trải qua nhiều phen sống chết luân hồi trong cảnh giới các loài hữu tình.
1) Tất cả loài có sự sống đều gọi là chúng sanh, như các loài động vật và thực vật, hữu tình và vô tình.
2) Chúng có nghĩa là rất nhiều ; Sanh nghĩa là sanh khởi : do năm ấm, các duyên hòa hợp thành những vật có sự sống tương tục, gọi là chúng sanh.
3) Trải qua nhiều phen sống chết luân hồi trong cảnh giới các loài hữu tình.
2. Ðại thứ năm : Là vật
không có. Chỉ có 4 đại : Ðịa, Thủy, Hỏa, Phong.
3. Ấm thứ sáu : Là vật
không có. Chỉ có 5 ấm : Sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
4. Tình thứ bảy : Là vật
không có, chỉ có sáu căn tình thức cảm giác là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
ý.
5. Nhập thứ 13 : Là vật
không có, chỉ có 12 nhập là 6 căn xung nhập 6 trần.
6. Giới thứ 19 : Là vật
không có. Chỉ có 18 giới là 6 căn nội giới, 6 trần ngoại giới và 6 thức trung
giới.
7. Sắc thân cõi Vô Sắc :
Là vật không có. Cõi Vô Sắc chỉ có 4 ấm : Thọ. tưởng, hành, thức về tâm pháp
hợp thành loài hữu tình nơi đó, không có hình chất như cõi Sắc giới và Dục
giới.
8. Thân kiến của Tu đà
hoàn : Là việc không có. Tu đà hoàn là quả thứ nhứt trong 4 quả Thánh của Thanh
Văn Tiểu thừa ; Tàu dịch là Dự lưu, nghĩa là dự vào giòng Thánh. Bực này đã phá
được kiến hoặc (sự thấy biết mê lầm) ở trong 3 cõi, nên không còn quan niệm
chấp thân là thật nữa.
9. Sự nhập thai của A na
hàm : Là việc không có. A na hàm là quả thứ ba của Thanh Văn. Tàu dịch là Bất
lai, nghĩa là bực này tu hành đã dứt hết chín phẩm tư hoặc (tư tưởng sai lầm) ở
Dục giới, nên không còn thọ sanh trở lại cõi Dục nữa.
10. Tam độc của A la hán
: Là việc không có. A la hán là quả thứ tư trong 4 quả Thanh Văn, Tàu dịch là
Vô sanh. Bực này đã dứt hết phiền não mê lầm trong 3 cõi, nên không còn 3 thứ
độc : Tham, Sân, Si nữa.
11. Hơi thở ra vào của
người nhập Diệt tận định : Là việc không có. Vì người nhập Diệt tận định đã dứt
hết hiện hành của 6 thức trước, nên không còn thở nữa.
12. Thạch nữ : Là người
nữ không có sanh con. Nói con của Thạch nữ là thí dụ cho việc không có, cũng
như nói lông rùa sừng thỏ.
13. Kiết sử : Các thứ
phiền não ràng buộc thân tâm kết thành quả khổ gọi là kiết; đeo đuổi xui dục
chúng sanh không ra khỏỉ sanh tử gọi là sử.
Kiết có 9 món :
1) Ái kiết : say đắm cảnh ngũ dục không rời.
2) Nhuế kiết : giận dữ bất bình đối với nghịch cảnh.
3) Mạn kiết : kiêu căng ngạo nghễ.
4) Vô minh kiết : ngu si mờ ám đối với lẽ chơn chánh.
5) Kiến kiết : tà kiến không tin nhơn quả.
6) Thủ kiết : vọng chấp sự hiểu biết không chơn chánh, và giới pháp sai lầm, làm lắm điều ác.
7) Nghi kiết : dụ dự không tin chơn lý, không tu hành theo hạnh chơn lý, làm nhiều điều không chơn chánh.
8) Tật kiết : ghen ghét những bậc hiền đức.
9) Xan kiết : keo sẻn không chịu bố thí, lại làm nhiều điều ác.
Chín điều này ràng buộc chúng sanh trong đường sanh tử, vì nó khiến chúng sanh gây nhiều tội lỗi.
Kiết có 9 món :
1) Ái kiết : say đắm cảnh ngũ dục không rời.
2) Nhuế kiết : giận dữ bất bình đối với nghịch cảnh.
3) Mạn kiết : kiêu căng ngạo nghễ.
4) Vô minh kiết : ngu si mờ ám đối với lẽ chơn chánh.
5) Kiến kiết : tà kiến không tin nhơn quả.
6) Thủ kiết : vọng chấp sự hiểu biết không chơn chánh, và giới pháp sai lầm, làm lắm điều ác.
7) Nghi kiết : dụ dự không tin chơn lý, không tu hành theo hạnh chơn lý, làm nhiều điều không chơn chánh.
8) Tật kiết : ghen ghét những bậc hiền đức.
9) Xan kiết : keo sẻn không chịu bố thí, lại làm nhiều điều ác.
Chín điều này ràng buộc chúng sanh trong đường sanh tử, vì nó khiến chúng sanh gây nhiều tội lỗi.
Sử có 10 món, tức là 5
món Ðộn sử và 5 Lợi sử.
5 món Ðộn sử : 1) Tham dục sử, 2) Sân nhuế sử, 3) Vô minh sử, 4) Mạn sử, 5) Nghi sử.
5 món Ðộn sử : 1) Tham dục sử, 2) Sân nhuế sử, 3) Vô minh sử, 4) Mạn sử, 5) Nghi sử.
5 món Lợi sử : 1) Thân
kiến sử, 2) Biên kiến sử, 3) Tà kiến sử, 4) Kiến thủ sử, 5) Giới thủ sử.
Ðộn sử do sự chấp đắm mà có. Lợi sử do sự nhận thức sai lầm mà có. Cả hai đều gây nên phiền não xúi dục chúng sanh tạo nghiệp không ra khỏi ba cõi sanh tử.
Ðộn sử do sự chấp đắm mà có. Lợi sử do sự nhận thức sai lầm mà có. Cả hai đều gây nên phiền não xúi dục chúng sanh tạo nghiệp không ra khỏi ba cõi sanh tử.
14. Không trụ : Là dịch
nghĩa của danh từ : “Vô trụ”. Các pháp toàn không có tự tánh, nên không có chỗ
trụ trước, chỉ tùy theo duyên mà sanh khởi, nên gọi là vô trụ. Do vô trụ không
có chỗ trụ trước, nên chẳng phải có, chẳng phải không; vì chẳng phải có, không,
nên mới làm được cái gốc cho hiện tượng có, không của vạn hữu. Theo ý Ngài Duệ
Công thì vô trụ tức là thật tướng, thật tướng tức là tánh không, chỉ là khác
tên mà thôi.
15. Kiết tập : Tập khí
phiền não kiết sử.
16. Kỳ cựu : Bực tuổi
tác lão thành.
17. Tăng thượng mạn : Tự
mình chứa đặng những pháp tăng thượng của bực thánh, chưa chứng quả thánh mà tự
xưng là đã đặng chứng, khởi lòng ngã mạn, nên gọi là tăng thượng mạn.
18. Ba thừa : Thanh Văn,
Duyên Giác, Bồ Tát.
19. Chiêm bặc : Tàu dịch
là Kim sắc hoa thọ, hay huỳnh hoa thọ : nghĩa là cây hoa sắc vàng, có mùi hương
bay rất xa.
KINH DUY-MA-CẬT
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
* * * * *
VIII. PHẨM PHẬT ÐẠO (1)
Bấy giờ Ngài văn Thù Sư
Lợi hỏi ông Duy Ma Cật rằng :
- Bồ Tát thế nào là thông đạt Phật đạo ?
- Bồ Tát thật hành phi đạo(2) (trái đạo) là thông đạt Phật đạo.
- Lại hỏi : Thế nào là Bồ Tát thật hành Phi đạo ?
- Nếu Bồ Tát gây năm tội vô gián(3) mà không buồn giận, đến ở trong địa ngục mà không có tội cấu; đến trong loài súc sanh mà không có những lỗi vô minh kiêu mạn; đến trong ngạ quỉ mà vẫn đầy đủ công đức; đến cảnh Sắc và Vô Sắc giới mà không cho là thù thắng; hiện làm tham dục mà không nhiễm đắm; hiện làm giận dữ mà đối với chúng sanh không có ngại gì; hiện cách ngu si mà dùng trí tuệ điều phục tâm mình; hiện làm hạnh tham lam bỏn sẻn mà bỏ tất cả của cải, không tiếc thân mạng; hiện phá giới cấm mà ở trong tịnh giới, đến như tội bé nhỏ cũng hết lòng sợ sệt; hiện làm giận dũi mà thường từ bi, nhẫn nhục; hiện làm lười biếng mà siêng tu các công đức; hiện làm loạn ý mà thường niệm định; hiện làm ngu si mà thông đạt trí tuệ thế gian và xuất thế gian; hiện làm dua dối mà phương tiện thuận theo nghĩa các kinh; hiện làm kiêu mạn mà đối với chúng sanh mình cũng như cầu, đò(4); hiện làm tất cả phiền não mà lòng thường thanh tịnh; hiện vào trong chúng ma mà thuận theo trí tuệ của Phật, không theo đạo giáo khác; hiện làm hàng Thanh Văn mà nói các pháp chưa từng nghe cho chúng sanh; hiện vào hàng Bích Chi Phật mà thành tựu lòng đại bi, giáo hóa chúng sanh; hiện vào hạng nghèo nàn mà có tay đầy đủ của công đức; hiện vào hạng tàn tật mà đủ tướng tốt để trang nghiêm thân mình; hiện vào hạng hèn hạ mà sanh trong giòng giống Phật, đầy đủ các công đức; hiện vào hạng người ốm yếu xấu xa mà được thân Na-la-diên (kim cang), tất cả chúng sanh đều muốn xem; hiện vào hạng già bịnh mà đoạn hẳn gốc bịnh, không còn sợ chết; hiện làm hạng giàu có mà xem là vô thường, không có tham đắm; hiện có thê thiếp, thế nữ mà tránh xa bùn lầy ngũ dục; hiện nơi hạng đần độn mà thành tựu biện tài, vẫn giữ tổng trì; hiện vào tà tế(5) mà dùng chánh tế độ chúng sanh; hiện vào khắp các đạo, để đoạn dứt nhơn duyên; hiện vào Niết bàn mà không bỏ sanh tử. Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi ? Nếu Bồ Tát làm được những việc trái đạo như thế, đấy là thông suốt Phật đạo.
- Bồ Tát thế nào là thông đạt Phật đạo ?
- Bồ Tát thật hành phi đạo(2) (trái đạo) là thông đạt Phật đạo.
- Lại hỏi : Thế nào là Bồ Tát thật hành Phi đạo ?
- Nếu Bồ Tát gây năm tội vô gián(3) mà không buồn giận, đến ở trong địa ngục mà không có tội cấu; đến trong loài súc sanh mà không có những lỗi vô minh kiêu mạn; đến trong ngạ quỉ mà vẫn đầy đủ công đức; đến cảnh Sắc và Vô Sắc giới mà không cho là thù thắng; hiện làm tham dục mà không nhiễm đắm; hiện làm giận dữ mà đối với chúng sanh không có ngại gì; hiện cách ngu si mà dùng trí tuệ điều phục tâm mình; hiện làm hạnh tham lam bỏn sẻn mà bỏ tất cả của cải, không tiếc thân mạng; hiện phá giới cấm mà ở trong tịnh giới, đến như tội bé nhỏ cũng hết lòng sợ sệt; hiện làm giận dũi mà thường từ bi, nhẫn nhục; hiện làm lười biếng mà siêng tu các công đức; hiện làm loạn ý mà thường niệm định; hiện làm ngu si mà thông đạt trí tuệ thế gian và xuất thế gian; hiện làm dua dối mà phương tiện thuận theo nghĩa các kinh; hiện làm kiêu mạn mà đối với chúng sanh mình cũng như cầu, đò(4); hiện làm tất cả phiền não mà lòng thường thanh tịnh; hiện vào trong chúng ma mà thuận theo trí tuệ của Phật, không theo đạo giáo khác; hiện làm hàng Thanh Văn mà nói các pháp chưa từng nghe cho chúng sanh; hiện vào hàng Bích Chi Phật mà thành tựu lòng đại bi, giáo hóa chúng sanh; hiện vào hạng nghèo nàn mà có tay đầy đủ của công đức; hiện vào hạng tàn tật mà đủ tướng tốt để trang nghiêm thân mình; hiện vào hạng hèn hạ mà sanh trong giòng giống Phật, đầy đủ các công đức; hiện vào hạng người ốm yếu xấu xa mà được thân Na-la-diên (kim cang), tất cả chúng sanh đều muốn xem; hiện vào hạng già bịnh mà đoạn hẳn gốc bịnh, không còn sợ chết; hiện làm hạng giàu có mà xem là vô thường, không có tham đắm; hiện có thê thiếp, thế nữ mà tránh xa bùn lầy ngũ dục; hiện nơi hạng đần độn mà thành tựu biện tài, vẫn giữ tổng trì; hiện vào tà tế(5) mà dùng chánh tế độ chúng sanh; hiện vào khắp các đạo, để đoạn dứt nhơn duyên; hiện vào Niết bàn mà không bỏ sanh tử. Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi ? Nếu Bồ Tát làm được những việc trái đạo như thế, đấy là thông suốt Phật đạo.
Bấy giờ, ông Duy Ma Cật
hỏi Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng :
- Thế nào là hột giống Như Lai ?
Ngài Văn Thù Sư Lợi nói :
- Có thân là hột giống; vô minh có ái là giống; tham, sân, si là giống; 4 món điên đảo(6) là giống; 5 món che ngăn là giống; 6 nhập là giống ; 7 chỗ thức(7) là giống; 8 pháp tà(8) là giống; 9 món não(9) là giống; 10 điều bất thiện là giống; nói tóm lại 62 món tà kiến và tất cả phiền não đều là giống Phật cả.
- Thế nào là hột giống Như Lai ?
Ngài Văn Thù Sư Lợi nói :
- Có thân là hột giống; vô minh có ái là giống; tham, sân, si là giống; 4 món điên đảo(6) là giống; 5 món che ngăn là giống; 6 nhập là giống ; 7 chỗ thức(7) là giống; 8 pháp tà(8) là giống; 9 món não(9) là giống; 10 điều bất thiện là giống; nói tóm lại 62 món tà kiến và tất cả phiền não đều là giống Phật cả.
Ông Duy Ma Cật hỏi
:
- Tại sao thế ?
- Nếu người thấy vô vi mà vào chánh vị (Niết bàn) thời không thể còn phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác nữa. Ví như chỗ gò cao không thể sinh hoa sen, mà nơi bùn lầy thấp ướt mới có hoa sen. Như thế, người thấy vô vi, vào chánh vị không còn sanh trong Phật pháp được, mà ở trong bùn lầy phiền não mới có chúng sinh nghĩ đến Phật pháp mà thôi. Lại như gieo hột giống trên hư không thì không sinh được, ở đất phân bùn mới tốt tươi được. Như thế, người đã vào vô vi chánh vị không sanh được trong Phật pháp, kẻ khởi ngã kiến như núi Tu Di còn có Thể phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác mà sinh trong Phật pháp. Cho nên phải biết tất cả phiền não là giống Như Lai. Ví như không xuống bể cả, không thể đặng bảo châu vô giá, cũng như không vào biển cả phiền não thời làm sao mà có ngọc báu “nhứt thiết trí”.
- Tại sao thế ?
- Nếu người thấy vô vi mà vào chánh vị (Niết bàn) thời không thể còn phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác nữa. Ví như chỗ gò cao không thể sinh hoa sen, mà nơi bùn lầy thấp ướt mới có hoa sen. Như thế, người thấy vô vi, vào chánh vị không còn sanh trong Phật pháp được, mà ở trong bùn lầy phiền não mới có chúng sinh nghĩ đến Phật pháp mà thôi. Lại như gieo hột giống trên hư không thì không sinh được, ở đất phân bùn mới tốt tươi được. Như thế, người đã vào vô vi chánh vị không sanh được trong Phật pháp, kẻ khởi ngã kiến như núi Tu Di còn có Thể phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác mà sinh trong Phật pháp. Cho nên phải biết tất cả phiền não là giống Như Lai. Ví như không xuống bể cả, không thể đặng bảo châu vô giá, cũng như không vào biển cả phiền não thời làm sao mà có ngọc báu “nhứt thiết trí”.
Lúc bấy giờ Ngài Ðại Ca
Diếp khen rằng :
- Hay thay ! Hay thay ! Ngài Văn Thù Sư Lợi, lời nói thích quá. Thật đúng như lời Ngài nói những bọn trần lao là giống Như Lai. Hôm nay, chúng tôi không còn kham phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ðến như người đủ 5 tội vô gián còn có thể phát ý mong sanh trong Phật pháp, mà nay chúng tôi hoàn toàn không phát được. Ví như những người 5 căn(10) đã hư, đối với 5 món dục lạc chẳng còn cảm xúc. Cũng như hàng Thanh Văn đã đoạn hết kiết sử, ở trong Phật pháp không còn có lợi ích gì mấy, bởi không còn có chí nguyện.
- Hay thay ! Hay thay ! Ngài Văn Thù Sư Lợi, lời nói thích quá. Thật đúng như lời Ngài nói những bọn trần lao là giống Như Lai. Hôm nay, chúng tôi không còn kham phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ðến như người đủ 5 tội vô gián còn có thể phát ý mong sanh trong Phật pháp, mà nay chúng tôi hoàn toàn không phát được. Ví như những người 5 căn(10) đã hư, đối với 5 món dục lạc chẳng còn cảm xúc. Cũng như hàng Thanh Văn đã đoạn hết kiết sử, ở trong Phật pháp không còn có lợi ích gì mấy, bởi không còn có chí nguyện.
Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi
! Vì thế nên phàm phu ở trong Phật pháp còn có ảnh hưởng, mà hàng Thanh Văn
thời không. Vì sao ? Vì phàm phu nghe Phật nói pháp khởi được đạo tâm vô
thượng, chẳng đoạn Tam bảo, còn chính như Thanh Văn trọn đời nghe Phật pháp :
10 lực, 4 món vô úy v.v. . . mà hoàn toàn cũng không phát được đạo tâm vô
thượng.
Trong chúng hội có Bồ
Tát tên Phổ Hiện Sắc Thân hỏi ông Duy Ma Cật rằng :
- Cư sĩ ! Cha mẹ , vợ con, thân bằng quyến thuộc, những người tri thức là ai ? Tôi tớ, trai bạn, voi ngựa, xe cộ ở đâu ?
- Cư sĩ ! Cha mẹ , vợ con, thân bằng quyến thuộc, những người tri thức là ai ? Tôi tớ, trai bạn, voi ngựa, xe cộ ở đâu ?
Ông Duy Ma Cật dùng bài
kệ đáp rằng :
Trí độ(11) mẹ Bồ
Tát,
Phương tiện ấy là cha,
Ðạo sư tất cả chúng,
Ðều do đấy sanh ra.
Pháp hỷ(12) Chính là vợ,
Tâm từ bi là gái,
Tâm thành thực là trai,
Rốt ráo vắng lặng : nhà.
Trần lao(13) là đệ tử,
Tùy ý mà sai sử,
Ðạo phẩm (14) vốn bạn lành .
Do đấy thành chánh giác.
Các độ(15) là pháp lữ,
Tứ nhiếp là kỹ nữ.
Ca ngâm tụng lời pháp,
Lấy đó làm âm nhạc,
Vườn tược ấy tổng trì(16),
Cây rừng, pháp vô lậu,
Hoa, giác ý(17) sạch mầu,
Trái, giải thoát trí tuệ.
Bát giải (thoát)(18) là ao tắm,
Nước định lặng trong đầy,
Rải bảy thứ tịnh hoa(19),
Ðể tắm người không nhơ.
Ngũ thông (20), voi, ngựa chạy,
Ðại thừa là xe cộ,
Cầm cương là nhất tâm,
Dạo chơi đường bát chánh(21).
Tướng đủ nghiêm mặt mày,
Các tốt trau hình dáng,
Hổ thẹn làm thượng phục(22),
Thâm tâm làm tràng hoa.
Giàu có bảy của báu(23)
Dạy bảo để thêm lợi,
Như lời nói tu hành,
Hồi hướng làm lợi lớn.
Tứ thiền làm giường ghế,
Từ tịnh mạng sanh ra,
Học rộng thêm trí tuệ,
Ðó là tiếng tự giác.
Món ăn : pháp cam lồ,
Nước uống : vị giải thoát,
Tắm rửa sạch tịnh tâm,
Hương thoa là giới phẩm.
Trừ dẹp giặc phiền não,
Mạnh mẽ không ai hơn,
Hàng phục bốn thứ ma(24)
Phướng tốt dựng đạo tràng.
Tuy biết không sanh diệt,
Vì dạy chúng, có sanh,
Khắp hiện vào các cõi,
Như mặt nhựt, đều thấy.
Cúng dường khắp mười phương,
Không lường ức Như Lai,
Chư Phật và thân mình,
Không có tưởng phân biệt.
Dầu biết các cõi Phật,
Với chúng sanh đều không,
Mà thường tu Tịnh độ,
Dạy dỗ cho quần sanh.
Bao nhiêu loài hữu tình,
Oai nghi cùng hình, tiếng,
Bồ Tát lực, vô úy,
Ðồng thời đều khắp hiện.
Rõ biết các việc ma,
Mà hiện theo hạnh nó.
Dùng trí phương tiện khéo,
Tùy ý đều hay hiện,
Hoặc hiện già, bịnh, chết,
Thành tựu cho chúng sanh.
Rõ biết như huyễn hóa,
Thông suốt không ngăn ngại.
Hoặc hiện kiếp cháy tan,
Ðại địa đều trống rỗng,
Những người có tưởng “thường”,
Soi thấy rõ vô thường.
Vô số ức chúng sanh,
Ðều đến thỉnh Bồ Tát,
Ðồng thời đến nhà kia,
Dạy cho về Phật đạo.
Kinh sách, cấm, chú thuật.
Các nghề nghiệp khéo léo,
Ðều hiện làm việc ấy,
Lợi ích cho quần sanh.
Các đạo pháp thế gian,
Nương đấy mà xuất gia,
Ðể giải mê cho người,
Mà chẳng đọa tà kiến
Làm Nhựt, Nguyệt thiên tử,
Làm Phạm Vương, chủ, chúa,
Hoặc khi làm đất nước,
Hoặc lại làm gió lửa.
Vào kiếp có tật dịch,
Hiện làm các cây thuốc,
Nếu người nào uống đến,
Các bịnh ác tiêu trừ.
Vào kiếp có đói khát,
Hiện làm đồ uống ăn,
Trước là cứu đói khát,
Sau giảng dạy chính pháp.
Vào kiếp có đao binh,
Duyên khởi lòng từ bi,
Giáo hóa cho chúng sanh,
Tâm đừng còn tranh đấu.
Nếu có chiến trận lớn,
Làm cho sức ngang nhau,
Bồ Tát hiện oai thể,
Hàng phục để yên hòa.
Trong tất cả cõi nước,
Chỗ nào có địa ngục,
Ði ngay đến nơi đấy,
Cứu vớt người khổ não.
Trong tất cả cõi nước,
Súc sanh ăn lẫn nhau,
Ðều hiện sanh ra nó,
Làm cho được lợi ích.
Thị hiện trong ngũ dục,
Lại cũng hiện tu thiền,
Ðể tâm ma rối loạn,
Không thừa dịp hại đặng.
Hoa sen sanh trong lửa,
Thật đáng gọi ít có,
Cõi Dục mà tu thiền,
Ít có cũng như thế.
Hoặc hiện làm dâm nữ,
Dắt dẫn kẻ háo sắc,
Trước lấy dục dụ người,
Sau khiến vào trí Phật.
Hoặc làm chủ trong ấp,
Hoặc làm thầy khách buôn,
Quốc sư và Ðại thần,
Ðể lợi ích chúng sanh.
Các chỗ có kẻ nghèo,
Hiện làm kho vô tận,
Nhân đó khuyến dạy người,
Cho phát tâm vô thượng.
Kẻ kiêu căng ngã mạn,
Hiện làm những lực sĩ,
Tiêu phục lòng cống cao,
Quay về đạo Vô thượng.
Những người hay sợ sệt,
Ðến nơi để an ủi,
Trước thí pháp “không sợ”,
Sau dạy phát đạo tâm.
Hoặc hiện lìa dâm dục,
Làm vị tiên ngũ thông,
Chỉ dạy cho chúng sanh,
Ðể được giới, nhẫn, từ.
Thấy người cần hầu hạ,
Hiện làm kẻ tôi tớ,
Vừa đẹp ý người kia,
Vừa phát được đạo tâm.
Tùy theo việc cần dùng,
Mà vào trong Phật đạo,
Dùng sức phương tiện khéo,
Ðều giúp cho đầy đủ.
Ðạo pháp nhiều không lường,
Việc làm không bờ mé,
Trí tuệ không hạng lượng,
Ðộ thoát vô số chúng.
Dầu cho tất cả Phật,
Trong vô số ức kiếp,
Khen ngợi công đức kia,
Cũng không thể hết được.
Ai nghe pháp như thế,
Chẳng phát tâm Bồ Ðề,
Trừ những người bất tiếu,
Ngu si không trí tuệ.
Phương tiện ấy là cha,
Ðạo sư tất cả chúng,
Ðều do đấy sanh ra.
Pháp hỷ(12) Chính là vợ,
Tâm từ bi là gái,
Tâm thành thực là trai,
Rốt ráo vắng lặng : nhà.
Trần lao(13) là đệ tử,
Tùy ý mà sai sử,
Ðạo phẩm (14) vốn bạn lành .
Do đấy thành chánh giác.
Các độ(15) là pháp lữ,
Tứ nhiếp là kỹ nữ.
Ca ngâm tụng lời pháp,
Lấy đó làm âm nhạc,
Vườn tược ấy tổng trì(16),
Cây rừng, pháp vô lậu,
Hoa, giác ý(17) sạch mầu,
Trái, giải thoát trí tuệ.
Bát giải (thoát)(18) là ao tắm,
Nước định lặng trong đầy,
Rải bảy thứ tịnh hoa(19),
Ðể tắm người không nhơ.
Ngũ thông (20), voi, ngựa chạy,
Ðại thừa là xe cộ,
Cầm cương là nhất tâm,
Dạo chơi đường bát chánh(21).
Tướng đủ nghiêm mặt mày,
Các tốt trau hình dáng,
Hổ thẹn làm thượng phục(22),
Thâm tâm làm tràng hoa.
Giàu có bảy của báu(23)
Dạy bảo để thêm lợi,
Như lời nói tu hành,
Hồi hướng làm lợi lớn.
Tứ thiền làm giường ghế,
Từ tịnh mạng sanh ra,
Học rộng thêm trí tuệ,
Ðó là tiếng tự giác.
Món ăn : pháp cam lồ,
Nước uống : vị giải thoát,
Tắm rửa sạch tịnh tâm,
Hương thoa là giới phẩm.
Trừ dẹp giặc phiền não,
Mạnh mẽ không ai hơn,
Hàng phục bốn thứ ma(24)
Phướng tốt dựng đạo tràng.
Tuy biết không sanh diệt,
Vì dạy chúng, có sanh,
Khắp hiện vào các cõi,
Như mặt nhựt, đều thấy.
Cúng dường khắp mười phương,
Không lường ức Như Lai,
Chư Phật và thân mình,
Không có tưởng phân biệt.
Dầu biết các cõi Phật,
Với chúng sanh đều không,
Mà thường tu Tịnh độ,
Dạy dỗ cho quần sanh.
Bao nhiêu loài hữu tình,
Oai nghi cùng hình, tiếng,
Bồ Tát lực, vô úy,
Ðồng thời đều khắp hiện.
Rõ biết các việc ma,
Mà hiện theo hạnh nó.
Dùng trí phương tiện khéo,
Tùy ý đều hay hiện,
Hoặc hiện già, bịnh, chết,
Thành tựu cho chúng sanh.
Rõ biết như huyễn hóa,
Thông suốt không ngăn ngại.
Hoặc hiện kiếp cháy tan,
Ðại địa đều trống rỗng,
Những người có tưởng “thường”,
Soi thấy rõ vô thường.
Vô số ức chúng sanh,
Ðều đến thỉnh Bồ Tát,
Ðồng thời đến nhà kia,
Dạy cho về Phật đạo.
Kinh sách, cấm, chú thuật.
Các nghề nghiệp khéo léo,
Ðều hiện làm việc ấy,
Lợi ích cho quần sanh.
Các đạo pháp thế gian,
Nương đấy mà xuất gia,
Ðể giải mê cho người,
Mà chẳng đọa tà kiến
Làm Nhựt, Nguyệt thiên tử,
Làm Phạm Vương, chủ, chúa,
Hoặc khi làm đất nước,
Hoặc lại làm gió lửa.
Vào kiếp có tật dịch,
Hiện làm các cây thuốc,
Nếu người nào uống đến,
Các bịnh ác tiêu trừ.
Vào kiếp có đói khát,
Hiện làm đồ uống ăn,
Trước là cứu đói khát,
Sau giảng dạy chính pháp.
Vào kiếp có đao binh,
Duyên khởi lòng từ bi,
Giáo hóa cho chúng sanh,
Tâm đừng còn tranh đấu.
Nếu có chiến trận lớn,
Làm cho sức ngang nhau,
Bồ Tát hiện oai thể,
Hàng phục để yên hòa.
Trong tất cả cõi nước,
Chỗ nào có địa ngục,
Ði ngay đến nơi đấy,
Cứu vớt người khổ não.
Trong tất cả cõi nước,
Súc sanh ăn lẫn nhau,
Ðều hiện sanh ra nó,
Làm cho được lợi ích.
Thị hiện trong ngũ dục,
Lại cũng hiện tu thiền,
Ðể tâm ma rối loạn,
Không thừa dịp hại đặng.
Hoa sen sanh trong lửa,
Thật đáng gọi ít có,
Cõi Dục mà tu thiền,
Ít có cũng như thế.
Hoặc hiện làm dâm nữ,
Dắt dẫn kẻ háo sắc,
Trước lấy dục dụ người,
Sau khiến vào trí Phật.
Hoặc làm chủ trong ấp,
Hoặc làm thầy khách buôn,
Quốc sư và Ðại thần,
Ðể lợi ích chúng sanh.
Các chỗ có kẻ nghèo,
Hiện làm kho vô tận,
Nhân đó khuyến dạy người,
Cho phát tâm vô thượng.
Kẻ kiêu căng ngã mạn,
Hiện làm những lực sĩ,
Tiêu phục lòng cống cao,
Quay về đạo Vô thượng.
Những người hay sợ sệt,
Ðến nơi để an ủi,
Trước thí pháp “không sợ”,
Sau dạy phát đạo tâm.
Hoặc hiện lìa dâm dục,
Làm vị tiên ngũ thông,
Chỉ dạy cho chúng sanh,
Ðể được giới, nhẫn, từ.
Thấy người cần hầu hạ,
Hiện làm kẻ tôi tớ,
Vừa đẹp ý người kia,
Vừa phát được đạo tâm.
Tùy theo việc cần dùng,
Mà vào trong Phật đạo,
Dùng sức phương tiện khéo,
Ðều giúp cho đầy đủ.
Ðạo pháp nhiều không lường,
Việc làm không bờ mé,
Trí tuệ không hạng lượng,
Ðộ thoát vô số chúng.
Dầu cho tất cả Phật,
Trong vô số ức kiếp,
Khen ngợi công đức kia,
Cũng không thể hết được.
Ai nghe pháp như thế,
Chẳng phát tâm Bồ Ðề,
Trừ những người bất tiếu,
Ngu si không trí tuệ.
Chú thích của phẩm VIII
1. Phật đạo : Tiếng Phạn
là Phật đà Bồ đề, nghĩa là đạo giác ngộ như thật. Lại chỉ tất cả cáe điều phước
huệ thanh tịnh thuần thiện của Phật đã thành tựu viên mãn, đều gọi là Phật
đạo.
2. Phi đạo : Chẳng phải
Phật đạo, nghĩa là những phiền não tạp nhiễm, tập nghiệp của tất cả chúng sanh
trong ba cõi, ba đời và đạo pháp của Nhị thừa đều chẳng phải Phật đạo. Nhưng
nếu thông đạt Phật đạo thì phi đạo toàn là Phật đạo. Tỷ như thật hành các việc
trong đời, mà không sa mắc vào đời, cho đến thật hành hiện nhập Niết Bàn của
Nhị thừa, mà chẳng dứt sự sanh tử, độ sanh. Ðó là ở nơi phi đạo mà tự tại siêu
xuất phi đạo, nên tức nơi phi đạo mà thông đạt Phật đạo.
3. Năm tội vô gián : 1)
Giết cha, 2) Giết mẹ, 3) Giết A La Hán, 4) Phá hòa hiệp của chúng Tăng, 5) Làm
cho thân Phật ra máu. Người tạo ra năm tội này, phải đọa vào đia ngục Vô gián
(A tỳ), chịu các sự khổ bức, không khi nào hở dứt, nên gọi là Vô gián.
4. Như cầu, đò : ý nói
rất khiêm nhượng hạ mình, nghĩa là dù bị ngườl đời lấn lướt khinh khi, nhưng
vẫn nhẫn chịu không khinh mạn lại, cũng như cầu đò cứ chịu họ dày đạp qua
lại.
5. Tà tế, Chánh tế :
Ngoại đạo gọi là tà tế, ví như chỗ hiểm nạn dối gạt người. Phật đạo gọi là
chánh tế, ví như chỗ bến đò có thể đưa người qua được.
6. Bốn món điên đảo
:
1) Sự vật trong thế gian là vô thường mà chấp là thường,
2) Ngũ dục lạc, không phải vui mà chấp là vui,
3) Thân này không phải ta mà chấp là ta,
4) Thân này nhơ nhớp mà chấp là sạch.
Ðây là 4 món chấp của phàm phu.
1) Sự vật trong thế gian là vô thường mà chấp là thường,
2) Ngũ dục lạc, không phải vui mà chấp là vui,
3) Thân này không phải ta mà chấp là ta,
4) Thân này nhơ nhớp mà chấp là sạch.
Ðây là 4 món chấp của phàm phu.
7. Bảy chỗ thức :
1) Sơ thiền,
2) Nhị thiền,
3) Tam thiền,
4) Tứ thiền.
5) Vô biên xứ thiền,
6) Thức biên xứ thiền,
7) Vô sở hữu xứ thiền,
là bảy cảnh giới không có thống khổ bức não, thần thức được an trú. Trừ cõi Vô tưởng và cõi Phi phi tưởng không kể, là vì cõi này tâm tưởng quá vi tế, muội lược, tư niệm không rõ ràng.
1) Sơ thiền,
2) Nhị thiền,
3) Tam thiền,
4) Tứ thiền.
5) Vô biên xứ thiền,
6) Thức biên xứ thiền,
7) Vô sở hữu xứ thiền,
là bảy cảnh giới không có thống khổ bức não, thần thức được an trú. Trừ cõi Vô tưởng và cõi Phi phi tưởng không kể, là vì cõi này tâm tưởng quá vi tế, muội lược, tư niệm không rõ ràng.
8. Tám pháp tà : Ðã giải
ở phẩm III số 14.
9. Chín món não :
Về quá khứ ai quấy nhiễu mình, quấy nhiễu thân thích mình, thì sanh não, ai khen ngợi kẻ oán của mình, mình cũng sanh não. Quá khứ như thế thì hiện tại và vị lai cũng thế, nên gọi là chín chỗ não.
Về quá khứ ai quấy nhiễu mình, quấy nhiễu thân thích mình, thì sanh não, ai khen ngợi kẻ oán của mình, mình cũng sanh não. Quá khứ như thế thì hiện tại và vị lai cũng thế, nên gọi là chín chỗ não.
10. Năm căn : Mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân.
11. Trí độ :
Một độ trong 6 độ, nghĩa là trí tuệ viên mãn hay vượt qua biển sanh tử đến bờ Niết bàn rốt ráo.
Một độ trong 6 độ, nghĩa là trí tuệ viên mãn hay vượt qua biển sanh tử đến bờ Niết bàn rốt ráo.
12. Pháp hỷ : Nghe pháp
lãnh hội được, sanh lòng vui mừng gọi là pháp hỷ.
13. Trần lao : Trần là
nhiễm ô, nghĩa là các thứ tà kiến phiền não hay làm nhiễm ô chơn tánh. Lao là
nhọc nhằn, nghĩa là các tà kiến phiền não làm cho chúng sanh trôi lăn mệt nhọc
trong đường sanh tử.
14. Ðạo phẩm : Tức
phương pháp giúp người tu hành, thành tựu đạo quả Bồ đề, như 37 phẩm trợ đạo v
v
15. Các độ : 6 độ, 10
độ.
16. Tổng trì : Gồm nhiếp
các pháp.
17. Giác ý : ý niệm giác
sát cho tâm điều hòa thích trung, không cao không thấp, không phóng tán, không
hôn trầm.
18. Bát giải : Tức Bát
giải thoát đã giải ở phẩm III số 14.
19. Bảy thứ tịnh hoa
:
1) Giới tịnh : động tác của thân, khẩu ý thanh tịnh;
2) Tâm tịnh : tâm thanh tịnh không còn nhiễm trước;
3) Kiến tịnh : thấy được chơn tánh các pháp không còn khởi vọng chấp;
4) Ðộ nghi tịnh : Hiểu biết thấu đáo không còn ngờ vực;
5) Phân biệt đạo tịnh : Phân biệt rõ ràng tà đạo, chánh đạo;
6) Hành đoạn tri kiến tịnh : Tri kiến thật, hành thiện pháp, các ác pháp bị đoạn trừ, được thanh tịnh sáng suốt;
7) Niết Bàn tịnh : Chứng được Niết Bàn xa lìa mọi cấu nhiễm.
1) Giới tịnh : động tác của thân, khẩu ý thanh tịnh;
2) Tâm tịnh : tâm thanh tịnh không còn nhiễm trước;
3) Kiến tịnh : thấy được chơn tánh các pháp không còn khởi vọng chấp;
4) Ðộ nghi tịnh : Hiểu biết thấu đáo không còn ngờ vực;
5) Phân biệt đạo tịnh : Phân biệt rõ ràng tà đạo, chánh đạo;
6) Hành đoạn tri kiến tịnh : Tri kiến thật, hành thiện pháp, các ác pháp bị đoạn trừ, được thanh tịnh sáng suốt;
7) Niết Bàn tịnh : Chứng được Niết Bàn xa lìa mọi cấu nhiễm.
20. Ngũ thông : Lục
thông trừ Lậu tận thông. Ðã giải nơi phẩm II số 24.
21. Bát chánh : Giải ở
phẩm II số 26 trong mục 37 phẩm trợ đạo phần sau.
22. Thượng phục : Ðồ y
phục quí đẹp. Ðoạn này, ý nól lấy sự hổ thẹn để ngăn ngừa lỗi quấy, cũng như đồ
y phục che được gió lạnh vậy.
23. Bảy của báu :
1) Tín, 2) Giới, 3) Văn, 4)Xả, 5)Tuệ, 6) Tàm, 7) Quý.
Do tin pháp lành nên mới giữ giới. Do giữ giới thì ngăn được các việc ác, việc ác đã dứt, việc lành mới tinh tấn làm thêm. Nhưng tinh tấn làm việc lành cốt do sự học rộng nghe nhiều. Có nghe nhiều đạo pháp, thì tâm niệm mới xả bỏ không còn chấp trước: Do xả bỏ nên trí tuệ phát sanh. Còn tàm và quý cũng như hai người phụ lực để thành tựu 5 pháp trên.
24. Bốn thứ ma :
1) Phiền não ma : tham. sân, si v .v. . . hay làm não hại thân tâm.
2) Ấm ma : sắc, thọ, tưởng, hành, thức, 5 ấm đó thường sanh các thứ khổ não.
3) Tử ma : chết hay đoạn tuyệt mạng căn của người.
4) Thiên ma : Ma Vương ở trên từng trời Tha hóa tự tại thứ 6 của Dục giới, hay làm hại mất việc phúc thiện của người đời.
1) Tín, 2) Giới, 3) Văn, 4)Xả, 5)Tuệ, 6) Tàm, 7) Quý.
Do tin pháp lành nên mới giữ giới. Do giữ giới thì ngăn được các việc ác, việc ác đã dứt, việc lành mới tinh tấn làm thêm. Nhưng tinh tấn làm việc lành cốt do sự học rộng nghe nhiều. Có nghe nhiều đạo pháp, thì tâm niệm mới xả bỏ không còn chấp trước: Do xả bỏ nên trí tuệ phát sanh. Còn tàm và quý cũng như hai người phụ lực để thành tựu 5 pháp trên.
24. Bốn thứ ma :
1) Phiền não ma : tham. sân, si v .v. . . hay làm não hại thân tâm.
2) Ấm ma : sắc, thọ, tưởng, hành, thức, 5 ấm đó thường sanh các thứ khổ não.
3) Tử ma : chết hay đoạn tuyệt mạng căn của người.
4) Thiên ma : Ma Vương ở trên từng trời Tha hóa tự tại thứ 6 của Dục giới, hay làm hại mất việc phúc thiện của người đời.
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|