Từ xưa chư Phật, Bồ-tát
ra đời giáo hóa chúng sanh, với lòng bi-nguyện thâm-thiết đều muốn cho tất cả
thoát-ly cảnh giới triền phược khổ não, đồng hưởng cánh thanh tịnh an vui giải
thoát. Nhưng muốn thực hiện cảnh g
iới thanh tịnh an vui giải thoát, cốt yếu là mình phải đưọc thanh tịnh như
trong kinh nói “TÙY KỲ TÂM TỊNH, TẮC PHẬT ÐỘ TỊNH”.
Sớ dĩ thân Phật rực rỡ,
cảnh Phật trang nghiêm cũng đều do công đức diệu dụng của bản tâm thanh tịnh
lưu xuất. Bản tâm ấy, chúng sanh sẵn có, cũng như chư Phật, không hai không
khác, nhưng vì từ lâu cứ mê chấp, đắm nhiễm theo trần duyên mà không hiển bày
được đó thôi.
Bộ Kinh “DUY MA CẬT”
này, tôn yếu hiển bày pháp môn Bất Nhị. Chính đó là phương tiện của Chư Phật,
Bồ Tát thị hiện chỉ rõ chỗ diệu dụng của bản tâm thanh tịnh, là PHÁP MÔN GIẢI
THOÁT BẤT KHẢ TƯ NGHỊ mà Ngài DUY MA CẬT lặng thinh, đức Văn Thù tán thán, hàng
Nhị thừa sững sốt, không thế lấy trí suy nghĩ phân biệt biết nỗi, không thể
dùng lời nói luận bàn đến được.
Giáo lý Tối Thượng Thừa
này thật siêu thắng, trong đời ít có, khó gặp. Nay thầy Thích Huệ Hưng gia tâm
phiên dịch ra quốc văn, vì thời cơ xứng hiệp, nên được nhân duyên xuất
bản.
Nhận thấy pháp Tối
Thưọng Thừa này rất lợi ích, nên tôi nhứt tâm tùy hỉ giới thiệu cùng các bạn tu
hành nào muốn tìm phương GIẢI THOÁT, muốn thực hiện cảnh giới an vui BẤT KHẢ TƯ
NGHỊ.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni Phật
GIÁC NGUYÊN PHẬT HỌC ÐƯỜNG
Mùa Hạ Năm Tân Mão – 1951
Sa môn : LÊ PHƯỚC BìNH
LỜI NÓI ĐẦU
Kinh “DUY MA CẬT” cũng
có tên gọi : “Kinh BẤT KHẢ TƯ NGHỊ GIẢl THOÁT”. Kinh này nói rõ cảnh giới của
Ðại Bồ Tát chứng nhập.
Bồ Tát thườnng chẳng
những thị hiện thuận hành mà cũng lắm khi thị hiện nghịch hành để hóa độ chúng
sinh.
Ngài DUY MA CẬT chính là
vị Ðại Bồ Tát ở cõi Bất Ðộng, vì trợ duyên đức Thích Ca mà hiện thân cư sĩ đến
cõi ta bả này. Muốn hiển bản tánh “Bình Ðẳng Chơn Thật Không Hai” của chúng
sinh sẵn có, Ngài hiện thân có bịnh để chỉ bày các phưong pháp phá chấp : có,
không, thường, đoạn của Tiểu Thừa và phàm phu ngoại đạo.
Ðọc vào kinh ta nhận
thấy chẳng những hàng xuất gia mới thật hành được Phật đạo, mà Cư sĩ, Bà la môn
cho đến mọi tầng lớp dân chúng cũng đều thật hành được Phật dạo. Có thật hành
Phật đạo mới trở về bản tánh “bình đẳng không hai” và đầy đủ diệu dụng giải
thoát.
Ðạo Phật là đạo chú
trọng thật hành, không phải lý thuyết suông. Bộ Kinh DUY MA CẬT đây hiển rõ
rành mạch cả lý thuyết và chỗ thật hành cho đến thế nào là thân chứng. Càng
đọc, càng gẫm, càng thật hành, ta sẽ thấy đầy tánh cách từ bi vô ngại rộng lớn
bao la của tâm hồn lợi tha triệt để.
Ðời đang đắm chìm trong
biển khổ mênh mang, người muốn cứu đời chân chính, cần phải có phương pháp chân
chính cao siêu. Thấy sự lợi ích của kinh này hướng dẫn mọi người đi đến mục
đích cao cả, thoát hẳn muôn sự mê lầm đen tối của tâm hồn chấp trước, ích kỷ,
nhỏ hẹp và hành vi khổ lụy nhơn sinh, Dịch giả chẳng nệ gì chỗ hiểu chưa cùng
tột và hạnh đức chưa thân chứng đến cảnh giới “bất tư nghị” mà vội cống hiến
cho bạn đọc một pho sách chưa từng có.
Vậy có chỗ nào sơ sót
mong các bực cao minh phủ chính cho. Rất thâm tạ !
Dịch giả cẩn chí
LỆ NGÔN
I. Kinh này có phân ra
thượng, trung, hạ, 3 quyển, 14 phẩm. Nhưng tôi dịch đây chỉ để luôn một quyển
và số mục của các phẩm.
II. Về phẩm 11 và 111,
tôi có nêu tên các vị Thanh Văn, Bổ Tát trên mỗi đoạn cho dễ tìm khi quí vị
muốn xem.
III. Ở sau có phụ phần
chú thích danh từ. Phàm danh từ nào ở trước có giải rồi sau không giải
nữa.
Kinh này không phải là
kinh khóa tụng hàng ngày, nhưng nếu quí vị nào phát tâm trì tụng cũng được
nhiều lợi ích và công đức vô lượng, như trong phẩm “Thấy Phật A Súc”, phẩm
“Pháp cúng dường” và phẩm “Chúc lụy” có nói rõ. Khi tụng kinh này cũng phải y
theo nghi thức tụng niệm thường lệ, trước khai kinh, sau hồi hướng như tụng các
kinh khác vậy.
KINH DUY-MA-CẬT
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
KINH (1) DUY MA CẬT (2) SỞ THUYẾT
CŨNG GỌI
Kinh “BẤT KHẢ TƯ NGHỊ GIẢI THOÁT” (3)
Đời Diêu Tần, ngài Tam
tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
I. PHẨM PHẬT QUỐC (4)
Chính tôi được nghe, một
thuở kia, đức Phật Thích Ca ở thành Tỳ Da Ly (5) nơi vườn cây Am La (6) cùng
tám nghìn chúng Ðại Tỳ Kheo, hai vạn hai nghìn Bồ Tát, là những vị có tiếng
tăm, đều đã thành tựu trí hạnh đại thừa, do nhờ oai thần của chư Phật lập nên.
Các Ngài làm bức thành hộ pháp, giữ gìn chánh pháp, diễn nói pháp âm rất oai
hùng, tự tại vô úy như sư tử rống (7) danh đồn xa khắp mười phương. Người đời
không cầu thỉnh mà các Ngài sẵn sàng làm bạn giúp cho an vui. Các Ngài xương
minh Tam bảo không dể dứt mất, hàng phục tất cả ma oán, ngăn dẹp các ngoại đạo
; sáu căn (8) ba nghiệp (9) đều đã thanh tịnh ; trọn lìa năm món che ngăn (10)
và mười điều ràng buộc (11). Tâm thường an trụ nơi lý vô ngại giải thoát ; niệm
định tổng trì (12) bình đẳng, biện tài thông suốt như suối tuôn không dứt. Các
hạnh Bồ thí, trì giớí, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ và sức phương
tiện lợi mình lợì người thảy đều đầy đủ. Ðã được đến bực vô sở đắc (13) mà
không khởi pháp nhẫn (vô sinh pháp nhẫn)(14), hay tùy thuận dìễn nói pháp luân
bất thối (15), khéo hiểu rõ chân tướng các pháp, thấu biết căn cơ chúng sanh,
oai đức bao trùm đại chúng(16), không còn sợ sệt chi cả.
Các Ngài dùng công đức
trí tuệ trau sửa lòng mình, lấy tướng tốt trang nghiêm thân hình, sắc tượng
dung nhan bực nhứt, bỏ hẳn tất cả trang sức tốt đẹp trong đời, danh tiếng cao
xa vượt hẳn núi Tu di (17), lòng tin bền chắc như kim cương, đem Pháp bảo soi
khắp, mưa nước cam lố, phát ra tiếng tăm đều là vi diệu bực nhứt.
Các Ngài đã thâm nhập lý
duyên khởi (18), dứt hết các tập khí kiến chấp sai lầm bên có bên không, diễn
nói các pháp không sợ sệt như sư tử rống, những lời giảng nói như sấm nổ, không
có hạn lượng và đã quá hạn lượng.
Các Ngài tự mình nhóm
góp rất nhiều Pháp bảo như Hải đạo sư (19), rõ nghĩa lý sâu mầu của các pháp,
biết rành hiện trạng qua lại trong các cảnh thú và hành vi tốt xấu trong tâm
niệm chúng sanh. Gần kề bực Phật tối tôn là đấng đầy đủ trí tuệ, tự tại, thập
lực (20), vô úy (21), thập bát bất cộng(22). Ngăn đóng tất cả cửa nẻo ác thú,
hiện thân trong năm đường(23) hóa độ chúng sanh. Làm vị Ðại Y Vương (24) khéo
trị lành các bịnh, đúng theo bịnh cho thuốc đều được công hiệu. Ðã thành tựu vô
lượng công đức, trang nghiêm thanh tịnh vô lượng cõi Phật. Người nào được nghe
danh thấy hình đều được lợi ích. Những hành động của các Ngài đều không uổng
phí, các công đức như thế, đã hoàn toàn viên mãn.
Danh hiệu các Ngài là
Ðẳng Quán Bồ Tát, Bất Ðẳng Quán Bồ Tát, Ðẳng Bất Ðẳng Quán Bồ Tát, Ðịnh Tự Tại
Vương Bồ Tát, Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát, Pháp Tướng Bồ Tát, Quang Tướng Bồ Tát,
Quang Nghiêm Bồ Tát, Ðại Nghiêm Bồ Tát, Bảo Tích Bồ Tát, Biện Tích Bồ Tát, Bảo
Thu Bồ Tát, Bảo Ấn Bồ Tát, Thường Cử Thủ Bồ Tát, Thường Hạ Thủ Bồ Tát, Thường
Thảm Bồ Tát, Hỷ Căn Bồ Tát, Hỷ Vương Bồ Tát, Biện âm Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ
Tát, Chấp Bảo Cự Bồ Tát, Bảo Dõng Bồ Tát, Bảo Kiến Bồ Tát, Ðế Võng Bồ Tát, Minh
Võng Bồ Tát, Vô Duyên Quán Bồ Tát, Huệ Tích Bồ Tát, Bảo Thắng Bồ Tát, Thiên
Vương Bồ Tát, Hoại Ma Bồ Tát, Ðiễn Ðức Bồ Tát, Tự Tại Vương Bồ Tát, Công Ðức
Tướng Nghiêm Bồ Tát, Sư Tử Hống Bồ Tát, Lôi âm Bồ Tát, Sơn Tướng Kích Âm Bồ
Tát, Hương Tượng Bồ Tát, Bạch Hương Tượng Bồ Tát, Thuờng Tinh Tấn Bồ Tát, Bất
Hưu Tức Bồ Tát, Diệu Sanh Bồ Tát, Hoa Nghiêm Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát, Ðắc
Ðại Thế Bồ Tát, Phạm Võng Bồ Tát, Bảo Trượng Bồ Tát, Vô Thắng Bồ Tát, Nghiêm Ðộ
Bồ Tát, Kim Kế Bồ Tát, Châu Kế Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương
Tử Bồ Tát, cả thay như thế ba vạn hai nghìn Ngài.
Lại có một vạn vị Thi
Khi (25), Phạm Thiên Vương từ Tứ thiên hạ (26) khác đến chỗ Phật nghe Pháp. Lại
có một vạn hai nghìn vị Thiên đế cũng từ Tứ thiên hạ khác đến trong pháp hội.
Các hàng chư Thiên có oai lực lớn, cùng Long thần, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu
la, Khẩn na la, Ma hầu la đà (27) v.v. . . đều đến trong pháp hội. Lại có các
vị Tỳ kheo (28) , Tỳ kheo ni, ưu bà tắc (29), ưu bà di (30) cũng đến trong Pháp
hội.
Bấy gỉờ đức Phật nói Pháp cho vô lượng trăm nghìn đại chúng đông đảo cung kính
vây quanh đấy, ví như núi chúa Tu di hiển bày nơi bể cả. Ngài ngồi yên trên tòa
Sư tử (31) trang nghiêm bằng các thứ báu, oai đức che trùm tất cả đại chúng.
Khi ấy trong thành Tỳ Da Ly có Trưỏng giả tử(32) tên là Bảo Tích với 500 vị
Trưởng giả tử đồng cầm lọng bảy báu(33) đi đến chỗ Phật cung kính đảnh lễ đầu
mặt tiếp chơn, rối mỗi vị đều đem lọng báu của mình hợp nhau cúng dường Phật.
Do oai đức của Phật nên khiến các lọng báu ấv hiệp thành một cây trùm khắp cõi
Tam thiên đại thiên thế thế giới (34), mà tướng rộng dài của thế giới đều hiện
đủ trong đó.
Lại nữa, các núi
Tu di, Mục chơn lân dà , Ðại mục chơn lân đà, Tuyết sơn, Hương sơn, Bảo sơn,
Kim sơn, Hắc sơn, Thiết vi, Ðại thiết vi bể lớn, sông, rạch, dòng ngòi, nguốn
suối, cũng với mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, thiên cung, long cung và cùng
các vị tôn thần, nơi cõi Tam thiên đại thiên thế giỡi này đều hiện trong lọng
bảy báu, và chư Phật trong 10 phương, chư Phật đang nói pháp, cũng hiện trong
lọng bảy báu ấy.
Khi đó tất cả Ðại chúng
thấy thần lực của Phật đều khen ngợi chưa từng có, chấp tay làm lễ, ngắm nhìn
dung nhan Phật mắt không hề nháy. Trưởng giả tử Bảo Tích liền ở trước Phật đọc
bài kệ khen rằng :
Mắt trong, dài rộng như
sen xanh,
Tâm sạch đã tột các thiền định,
Lâu chứa tịnh nghiệp nói không cùng,
Dùng tịch độ chúng (35) nên cúi lạy.
Ðã thấy Ðại thánh dùng thần biến,
Khắp híện mười phương không lường cõi,
Trong đấy các Phật diễn nói pháp,
Nơi đây tất cả đều thấy nghe.
Pháp lực của Phật vượt quần sanh
Thường dùng Pháp tài thí tất cả,
Hay khéo phân biệt các Pháp tướng,
Ðối đệ nhứt nghĩa (36) mà không động.
Ðã được tự tại cùng các Pháp
Cho nên cúi đầu lễ Pháp vương.
Nói Pháp chẳng có cũng chẳng không
Vì do nhân duyên các Pháp sanh,
Không ta, không tạo, không thọ giả,
Những việc lành dữ cũng chẳng mất.
Trước tiên hàng ma nơi Phật thọ (37)
Ðặng Cam lồ diệt (38) thành đạo giác,
Ðã không tâm ý, không thọ hành (39)
Mà xô dẹp hết các ngoại đạo.
Ba lần chuyển Pháp (40) cõi đại thiên,
Pháp ấy lâu nay thường thanh tịnh,
Trời người đắc đạo đó là chứng,
Tam bảo vì thế hiện trong đời.
Dùng Pháp mầu này độ chúng sanh
Thọ rồi không lui, thường vắng lặng,
Khỏi già bịnh chết đấng Y Vương,
Lạy ngôi Pháp hải (41) đức không lường.
Khen chê chẳng động như Tu di
Ðồng bực thương xót kẻ lành dữ,
Tâm hạnh bình dầng như hư không,
Nghe đấng Nhơn bảo (42) ai chẳng kính.
Nay dâng Thế Tôn lọng mọn này
Cõi Tam thiên tôi hiện trong đó,
Thiên cung, Long thần kia nương ở,
Càn thát cả thảy với Dạ xoa.
Mọi vật trong đời đều thấy rõ,
Vì thương Phật hiện tướng biến này,
Thấy việc ít có chúng khen ngợi,
Nay con lạy đấng Tam giới tôn (43)
Ðại thánh chỗ nương của mọi loài,
Lòng sạch trong đó thảy vui vẻ,
Ðều thấy Thế Tôn ở trước mình,
Ðó là thần lực Pháp bất cộng. (44)
Phật dùng một tiếng diễn nói Pháp,
Chúng sanh tùy loại thảy đặng hiểu,
Ðều cho rằng Phật đồng tiếng mình,
Ðó là thần lực Pháp bất cộng.
Phật dùng một tiếng diễn nói Pháp,
Chúng sanh chỗ hiểu tùy mỗi hạng,
Khắp được thọ hành đều lợi ích,
Ðó là thần lực Pháp bất cộng.
Phật dùng một tiếng diễn nói Pháp,
Có người kinh sợ hoặc vui mừng,
Có kẻ dứt nghi hoặc nhàm chán,
Ðó là thần lực Pháp bất cộng.
Lạy đấng Thập lực đại tinh tấn,
Lạy đấng đã đặng không chỗ sợ,
Lạy đấng trụ nơi Pháp bất cộng,
Lạy đấng Ðạo sư (45) của muôn loài.
Lạy đấng hay dứt mọi kiết phược(46)
Lạy đấng đã đến nơi bờ kia,
Lạy đấng hay vượt các thế gian,
Lạy đấng trọn lìa đường sanh tử.
Biết hết chúng sanh tướng đến lui
Khéo nói các Pháp được giải thoát,
Như hoa sen trong đời chẩng nhiễm,
Thường khéo vào nơi hạnh không tịch.(47)
Lúc đó Trưởng giả tử Bảo
Tích đọc bài kệ tán thán xong, bạch Phật rằng : “'Bạch Thế Tôn ! Năm trăm vị
Trưởng giả tử nầy đều đã phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác nguyện nghe
cõi Phật thanh tịnh, cúi mong Thế Tôn dạy cho những hạnh của Bồ Tát được Tịnh
độ (quốc độ thanh tịnh).”
Phật bảo : “Hay thay Bảo
Tích ! Ông lại vì các vị Bồ Tát mà hỏi Như Lai những hạnh được Tịnh độ, vậy hãy
lắng nghe chín chắn, suy nghĩ kỹ nhớ lấy, ta sẽ nói cho ông rõ”.
Lúc ấy Bảo Tích cũng 500
vị Trưởng giả tử vâng lời Phật dạy, cung kính lóng nghe.
Phật dạy rằng : “Này Bảo
Tich ! Tất cả chúng sanh là cõi Phật của Bồ Tát. Vì sao ? – Bồ Tát tùy chỗ giáo
hóa chúng sanh mà lãnh lấy cõi Phật (Tịnh độ); tùy chỗ điều phục chúng sanh mà
lãnh lấy cõi Phật ; tùy chúng sanh ưng theo quốc độ nào vào trí tuệ của Phật mà
lãnh lấy cõi Phật ; tùy chúng sanh ưng theo quốc độ nào phát khởi căn tánh Bồ
Tát mà lãnh lấy cõi Phật. Vì sao thế ? – Vì Bồ Tãt lãnh lấy cõi Phật thanh tịnh
đều vì muốn lợi ích chúng sanh. Ví như : Có người muốn xây dựng cung nhà nơi
khoảng đất trống, tùy ý được thành công, nếu xây dựng giữa hư khỏng quyết không
thành tựu được ; Bồ Tát cũng thế, vì thành tựu chúng sanh nên nguyện lãnh lấy cõi
Phật – Nguyện lãnh lấy cõi Phật chẳng phải ở nơi rỗng không vậy.
Bảo Tích, ông nên biết !
- Trực tâm (49) là Tịnh dộ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh không
dua vạy, sanh sang nước dó. Thâm tâm (50) là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát
thành Phật, chúng sanh đầy đủ công đức sanh sang nước đó. Bồ Ðề tâm (51) là
Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh có tâm đại thừa sanh
sang nước đó. Bố thí là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh
hay thí xả tất cả mọi vật sanh sang nước đó. Trì giớí là Tịnh độ của Bồ Tát ;
khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh tu mười điều lành (52), hạnh nguyện đầy đủ,
sanh sang nước đó. Nhẫn nhục là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật,
chúng sanh đủ 32 tướng tốt (53) trang nghiêm sanh sang nước đó. Tinh tiến là
Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh siêng tu mọi công đức
sanh sang nước đó. Thiền định là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật,
chúng sanh biết thu nhiếp tâm chẳng loạn sanh sang nước đó. Trí tuệ là Tịnh độ
của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh được chánh định sanh sang nước
đó. Tứ vô lượng tâm(54) là Tịnh độ của Bồ Tát ; Khi Bồ Tát thành Phật, chúng
sanh thành tựu từ, bi, hỷ, xả sanh sang nước đó. Tứ nhiếp Pháp (55) là Tịnh độ
của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh được giải thoát sanh sang nước
đó. Phương tiện là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh khéo
dùng đặng phương tiện không bị ngăn ngại ở các pháp, sanh sang nước dó. Ba mươi
bảy phẩm trợ đạo (56) là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật chúng sanh
đầy đủ niệm xứ, chánh cần, thần túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, bát chánh
đạo, sanh sang nước đó. Hồi hướng tâm (57) là Tịnh độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát
thành Phật, được cõi nước đầy đủ tất cả công đức. Nói Pháp trừ tám nạn là Tịnh
độ của Bồ Tát ; khi Bồ Tát thành Phật, cõi nước không có ba đường ác (58) và
tám nạn (59) . Tự mình giữ giới hạnh không chê chỗ kém khuyết của người khác là
Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, cõi nưỡc không có tên phạm giới cấm.
Mười điều lành là Tịnh độ của Bồ Tát; khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh sống
lâu, giàu to, phạm hạnh (60), lời nói chắc thật, thường dùng lời dịu dàng,
quyến thuộc không chia rẻ, khéo giải hòa việc đua tranh kiện cáo, lời nói có
lợi ich, không ghét không giận, thấy biết chân chánh sanh sang nước đó.
Như thế, Bảo Tích ! Bồ
Tát tùy chỗ trực tâm mà hay phát hạnh, tùy chỗ phát hạnh mà được thâm tâm, tùy
chỗ thâm tâm mà ý được điều phục, tùy chỗ ý được điều phục mà làm được như lời
nói, tùy chỗ làm được như lời nói mà hay hồi hướng, tùy chỗ hồi hướng mà có
phương tiện, tùy chỗ có phương tiện mà thành tựu chúng sanh, tùy chỗ thành tựu
chúng sanh mà cõi Phật được thanh tịnh, tùy chỗ cõi Phật thanh tịnh mà nói Pháp
được thanh tịnh, tùy chỗ nói Pháp thanh tịnh mà trí tuệ được thanh tịnh, tùy
chỗ trí tuệ thanh tịnh mà tâm thanh tịnh, tùy chỗ tâm thanh tịnh mà tất cả công
đức đều thanh tịnh. Cho nên, Bảo Tích này !
Bồ Tát nếu muốn được cõi Phật thanh tịnh, nên làm cho tâm thanh tịnh; tùy chỗ
Tâm thanh tịnh mà cõi Phật được thanh tịnh.
Lúc ấy, ông Xá Lợi Phất
nương oai thần của Phật mà nghĩ rằng : “Nếu tâm Bồ Tát thanh tịnh chắc cõi Phật
phải được thanh tịnh, vậy Thế Tôn ta khi trước làm Bồ Tát tâm ý lẽ nào không
thanh tịnh, sao cõi Phật này không thanh tịnh như thế ?”.
Phật biết ông suy nghĩ
vậy liền bảo rằng :
– Ý ông nghĩ sao ? Mặt trời, mặt trăng há không thanh tịnh sáng suốt ư, sao
người mù không thấy ?
– Bạch Thế Tôn ! Chẳng
phải thế. Ðó là tại người mù, không phảỉ lỗi ở mặt trời và mặt trăng.
– Xá Lợí Phất ! Cũng
thế, bởi chúng sanh do tội chướng nên không thấy được cõi nước của Như Lai
thanh tịnh trang nghiêm, chớ không phải lỗi ở Như Lai – Này Xá Lợi Phất ! Cõi
nước của ta đây vẫn thanh tịnh mà tại ông không thấy đó thôi.
Bấy giờ ông Loa Kế Phạm
Vương thưa với ông Xá Lợi Phất rằng :
– Ngài chớ nghĩ như thế, mà cho cõi Phật đây là không thanh tịnh. Vì sao ? – Vì
tôi thấy cõi nước của Phật Thích Ca Mâu Ni thanh tịnh, ví như cung trời Tự Tại
(61).
Ông Xá Lợí Phất nói
:
– Sao tôi thấy cõi này toàn gò nỗng, hám hố, chông gai, sỏi sạn, đất đá, núi
non, nhơ nhớp dẫy đầy như thế ?
Ông Loa Kế Phạm Vương
thưa rằng :
– Ðấy là do tâm của Ngài có cao thấp không nương theo trí tuệ của Phật nên thấy
cõi này không thanh tịnh đó thôi – Thưa Ngài Xá Lợi Phất ! Bồ Tát đối với tất
cả chúng sanh thảy đều bình đẳng, thâm tâm thanh tịnh y theo trí tuệ của Phật
thì mới thấy được cõi Phật này thanh tịnh.
Khi ấy Phật lấy ngón
chơn nhấn xuống đất, tức thì cõi Tam thiên đại thiên thế giới liền hiện ra bao
nhiêu trăm nghìn thứ trân bảo trang nghiêm rực rỡ, như cõi Vô Lượng Công Ðức
Bảo Trang Nghiêm của Phật Bảo Trang Nghiêm. Tất cả Ðại chúng ngợi khen chưa
từng có và đều thấy mình ngồi trên tòa sen báu.
Phật bảo Xá Lợi Phất
:
– Ông hãy xem cõi Phật, đây trang nghiêm thanh tịnh.
Ông Xá Lợi Phất thưa
:
– Dạ, bạch Thế Tôn ! Từ trước dến giờ con chưa từng thấy, chưa từng nghe. Nay cõi
nước của Phật đều hiện rõ trang nghiêm thanh tịnh.
Phật bảo :
– Này Xá Lợi Phất ! Cõi nước của ta thường thanh tịnh như thế ! Nhưng vì muốn
độ những kẻ căn cơ hạ liệt nên thị hiện ra cõi đầy nhơ nhớp xấu xa bất tịnh đó
thôi. Ví như Chư Thiên đồng dùng một thứ bát bằng ngọc báu để ăn, nhưng tùy
phước đức của mỗi vị mà sắc cơm có khác. Như thế, Xá Lợi Phất ! Nếu tâm người
thanh tịnh, sẽ thấy cõi này công đức trang nghiêm.
Trong khi Phật hiện ra
cõi nước trang nghiêm thanh tịnh, 500 vị Trưởng giả tử do ông Bảo Tích dắt đến
đều chứng được vô sanh Pháp nhẫn, tám vạn bốn nghìn người phát tâm Vô Thượng
Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Bấy giờ Phật thâu nhiếp
thần túc (62) lại, cõi nước trở thành như xưa. Ba vạn hai nghìn người và Trời
cầu Thanh văn thừa đều nhận rõ các Pháp hữu vi (63) là vô thường, xa lìa trần
cấu (64) đặng pháp nhãn thanh tịnh (65), tám nghìn vị Tỳ kheo không còn chấp
thọ các pháp, kiết lậu (66) đã hết, tâm ý được giải thoát.
Chú thích của phẩm
I
1. Kinh: Nói đủ là “Khế
kinh”, nghĩa là “pháp thường” khế hiệp chơn lý cùng khế hiệp căn cơ chúng
sanh.
2. Duy Ma Cật: Tên một
vị Trưởng giả ở thành Tỳ Da Ly, tàu dịch là “Tịnh Danh”.
3. Bất khả tư nghị giải
thoát: Là pháp môn giải thoát tự tại vô ngại không thể nghĩ bàn. Hai chữ “Giải
thoát” đây là xa lìa tất cả phiền não nghiệp chướng khổ lụy, cứu cánh viên mãn
tự tại vô ngại, không phải như hàng Nhị thừa giải thoát sanh tử mà còn chướng
ngại với cảnh pháp... Xem phẩm Bất khả tư nghị sau thời rõ.
4. Phật quốc: Cõi nước
của Phật. Như Tây phương Tịnh độ là cõi nước của Phật A Di Ðà, Ta bà là cõi
nước của Phật Thích Ca.
5. Tỳ Da Ly: Tàu dịch là
Quảng Nghiêm, nghĩa là thành này châu vi rộng lớn rất trang nghiêm, tốt đẹp, ở
về Trung Ấn Ðộ.
6. Am La : Tàu dịch là
“nan phân biệt” nghĩa là thứ trái cây này từ khi còn sống đến khi chín chỉ có
một màu xanh nên khó phân biệt được trái nào sống trái nào chín.
7. Sư tử rống: dụ Phật,
Bồ Tát thuyết pháp tự tại không sợ sệt, lại làm cho tất cả phiền não mê tánh
của chúng sanh đều tiêu trừ, ví như sư tử rống lên một tiếng thì tất cả các thú
đều khiếp sợ chạy trốn .
8. Sáu căn : Mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân, ý.
9. Ba nghiệp: 1)Thân
nghiệp, 2) Khẩu nghiệp, 3) Ý nghiệp.
10. Năm món che
ngăn:
1) Tham dục ;
2) Sân nhuế ;
3) Thùy miên: Tâm hôn trầm không làm chi được;
4) Trạo hối: Trong tâm có sự ăn năn xao động ;
5) Nghi pháp : Ðối với việc gì cũng mờ ám dụ dự không quyết
đoán.
Năm món này hay che đậy chơn tánh và làm cho các pháp lành không phát khởi hiển
lộ được.
11. Mười điều ràng
buộc:
1) Vô tàm : có tội lỗi mà không biết hổ :
2) Vô quý : có tội lỗi người khác biết được mà không thẹn.
3) Tật : thấy người hiền đức giàu sang sanh lòng ghen ghét;
4) Xan : bỏn sẻn không Bố thí;
5) Hối: ăn năn những tội lỗi đã làm;
6) Thùy miên: hôn mê không tỉnh sát được thâm tâm;
7) Ðiệu cử : Tâm niệm xao động;
8) Hôn trầm : thần thức hôn mê không rõ biết chi cả;
9) Sân hận : đối trước nghịch cảnh sanh tâm giận dũi;
10) Phú : che dấu tội ác.
12. Niệm định tổng trì:
Niệm tức là Tuệ; Tổng Trì: gồm nhiếp tất cả các pháp. Trong định gồm có tuệ,
trong tuệ gồm có định gọi là niệm định tổng trì.
13. Vô sở đắc: Là đối
với hữu sở đắc mà nối. Nghĩa là không còn trụ trước một pháp nào cả, dầu trí
chứng và cảnh chứng cũng không thấy có.
14. Vô sanh pháp nhẫn:
Vô sanh tức là không sanh không diệt. Nhẫn có nghĩa là tin nhận giữ gìn; là nói
dùng trí vô lậu an trú trong thể chơn lý bất sanh bất diệt, tâm không lay động.
Trong “Ðại Trí Ðộ luận”, quyển 50 nói : “Ðối thật tướng vô sanh diệt của các
pháp, tin nhận thông suốt, không ngăn ngại, không thối lui, gọi là Vô sanh
nhẫn”.
15. Pháp luân bất thối :
Phật Bồ Tát thuyết pháp gọi là chuyển pháp luân. Các bậc Bồ Tát nghe pháp Phật
dạy, đạo niệm càng thêm tăng tấn gọi là bất thối (không lui). Lại các bậc Bồ
Tát đã chứng được “bất thối” rồi, đem pháp ấy dạy cho chúng sanh để cho được
bất thối, nên gọi là chuyển pháp luân bất thối .
16. Ðại chúng: là một
nhóm người đông. Trong những thời thuyết pháp của Phật, trừ Phật ra còn bao
nhiêu bậc Hiền Thánh đều gọi là đại chúng. Chúng Tăng theo Phật tu học cũng gọi
là Ðại chúng.
17. Tu Di: Tàu dịch là
Diệu Cao, núi này thuần bằng bốn chất báu: vàng: bạc, lưu ly, pha lê rất xinh
đẹp nên gọi là Diệu, Cao hơn tất cả núi khác nên gọi rằng Cao.
18. Lý Duyên khởi: Tất
cả các pháp đều từ nơi các duyên nhóm họp mà sanh khởi. Vì tỏ ngộ lý duyên
khởi, nhận rõ các pháp không thật có, như huyễn hóa nên chẳng chấp có, nhưng
các pháp là do duyên sanh, không phải hẳn là không, nên chẳng chấp không. Có
không đều lìa, mới là thâm nhập lý duyên khởi.
19. Hải đạo sư: Là nguời
rất rành giỏi đường biển, làm thầy hướng đạo dắt dẫn các kẻ thương nhân vào
biển để tìm ngọc báu không sợ lạc đàng. Dụ cho Phật và Bồ Tát là bực dắt dẫn
chúng sanh đi vào chánh đạo không sai lạc.
20. Thập lực: Mười trí
lực của Phật. Trí lực của Phật
1) Biết rõ những điều hợp lý và trái lý.
2) Biết rõ nhơn quả
nghiệp báo của chúng sanh trongng ba đời.
3) Biết rõ các pháp
thiền định giải thoát tam muội.
4) Biết rõ tùng bực cao
thấp các căn tánh của chúng sanh.
5) Biết rõ những ưa muốn
sai khác của chúng sanh.
6) Biết rõ tất cả những
cảnh giới sai khác của chúng sanh trong thế gian.
7) Biết rõ chỗ đi đến
của tất cả phàm phu, Hiền Thánh thế gian và xuất thế gian.
8) Biết rõ tánh danh
khổ, vui, thọ, yễu của tất cả chúng sanh.
9) Biết rõ sự sống chết
qua lại các kiếp trước của tất cả chúng sanh, và vô lậu Niết bàn của các Hiền
Thánh.
10) Tự biết mình đã dứt
hết nghiệp hoặc tập khí, không còn sanh tử triền phược nữa.
21. Vô úy: Bốn món vô úy
:
1) Nhứt thế trí: hiểu biết tất cả pháp thế gian và xuất thế gian;
2) Lậu tận: hoặc nghiệp sanh tử đều biết hết;
3) Thuyết chướng đạo: nói pháp ma ngoại là chướng thánh đạo;
4) Thuyết tận khổ đạo: nói những đạo pháp có thế diệt hết các khổ.
Bốn điều này Phật đối giữa Ðại chúng các hàng Thiên ma, Phạm thiên, Sa môn, Bà
la môn, nói một cách tự tại không sợ ai, không ai nói đuợc nên gọi là “Vô
úy”.
22. Thập bát bất cọng:
Mười tám (18) Pháp bất cọng này chỉ có Phật chứng đặng mà chẳng chung đồng với
hàng Nhị thừa và Bồ Tát.
1) Thân không lỗi.
2) Miệng không lỗi.
3) Niệm không lỗi.
4) Không có tâm tuởng khác.
5) Không có tâm bất định.
6) Không có tâm không biết.
7) Sự muốn không giảm.
8) Tinh tấn không giảm.
9) Niệm không giảm.
10) Huệ không giảm.
11) Giải thoát không giảm.
12) Giải thoát tri kiến không giảm.
13) Tất cả thân nghiệp theo trí tuệ mà hành động.
14) Tất cả khẩu nghiệp theo trí tuệ mà hành động.
15) Tất cả ý nghiệp theo trí tuệ mà hành động.
16) Trí tuệ biết đời vị lai không ngại.
17) Trí tuệ biết đời quá khứ không ngại.
18) Trí tuệ biết đời hiện tại không ngại.
23. Năm đường : Trời,
người, ngạ quỉ, súc sanh, địa ngục.
24. Ðại y vương: Thầy thuốc trị bịnh giỏi hơn các Thầy thuốc khác. Ðức Phật hay
tùy thuận căn cơ chúng sanh, khéo hóa độ, khiến xa lìa tất cả khổ não, như ông
Thầy thuốc hay khéo tịi lành các bịnh nhơn nên gọi Phật là “Ðại y vương”.
25. Thi khí : Tên vị vua
cõi trời Ðại Phạm Thiên, ở từng trời thứ ba cõi sơ thiên của Sắc giới.
26. Tứ thiên hạ: Bốn
châu thiên hạ.
1) Ðông thắng thần châu;
2) Nam thiệm bộ châu;
3) Tây ngưu hóa châu;
4) Bắc cu lô châu.
27. Thiên, long thẩn
v.v... : Tục gọi là Thiên, Long Bát bộ.
1) Thiên : chư Thiên ;
2) Long : là rồng ;
3) Dạ xoa : loài quỉ bay đi rất mau ;
4) Càn thát bà : thần âm nhạc ;
5) A tu la : thần chiến đấu. Tàu dịch là Phi thiên ; có phước như Trời mà đức
kém hơn Trời ;
6) Ca lâu na : chim đại bàng ;
7) Khẩn na la : thần pháp nhạc;.
8) Ma hầu la dà : thần mãng xà.
28. Tỳ kheo : Tiếng Phạn
“Bhiksu”, các thầy xuất gia thọ giới cụ túc (thọ 250 giới của Phật). Ðàn ông
gọi là Tỳ kheo, còn đàn bà gọi là Tỳ kheo ni (Thọ 350 giới).
29. Ưu bà tắc : Tàu dịch
là cận sự nam. Cận sự : nghĩa là thường thân cận cúng dường ủng hộ các bực xuất
gia tu hành, tức là chỉ những người tại gia cư sĩ bên nam giới.
30. Ưu bà di : Tàu dịch
là cận sự nữ tức là nữ cư sĩ.
31. Tòa sư tử : Pháp tòa
của Phật ; Phật ngồi chỗ nào thuyết pháp, thời chỗ ấy gọi là “tòa sư tử”; vì
Phật tự tại vô úy hàng phục được tất cả các ngoại đạo nên lấy sư tử làm ví dụ
.
32. Trưởng giả tử : con
ông Trưởng giả. Trưởng giả là người vừa có của cải, vừa có đức hạnh đầy đủ.
Kinh Pháp Hoa Huyền Tán quyển 10 nói : “Tâm tánh ngay thẳng, lời lẽ chơn thật,
hành vi thuần cẩn, tuổi tác già cả, của cải giàu có gọi là Trưởng giả.”
33. Bảy báu : Vàng, Bạc,
Lưu ly, Pha lê, Xa cừ, Xích châu, Mã não.
34. Tam thiên Ðại thiên
thế giới : Một thái dương hệ tương đương với một tiểu thế giới; một ngàn tiểu
thế giớì, là một tiểu thiên thế giới; một ngàn tiểu thiên thế giới là một trung
thiên thế giới; một ngàn trung thiên thế giới là một đại thiên thế giới. Vậy
đại thiên thế glới là một thế giới trải qua ba lần nhơn cho số ngàn, nên gọi là
“Tam thiên Ðại thiên thế giới”.
35. Dùng tích độ chúng :
Tức dùng đạo lý Niết bàn tịch diệt dứt trừ tất cả nghiệp chướng khổ lụy để độ
chúng sanh.
36. Ðệ nhứt nghĩa :
Tượng trưng chơn lý cứu cánh, thật tánh các pháp; trên hết tất cả là “đệ nhứt”,
có lý do như thật gọi là “nghĩa”. Cảnh giới của bậc tự giác thánh trí chứng
đặng. Chẳng phải hạng dùng ngôn thuyết vọng tưởng so lường biết được. Trong
kinh Pháp Hoa nghĩa sớ quyển 4 nói : “Cái đạo nhứt thật, lý cùng tột không chi
hơn là “đệ nhứt””. Có nguyên do như thật gọi là “Nghĩa”.
37. Phật thọ : Tức là
cội bồ đề; chỗ Phật thành đạo ở dưới cội cây này gọi là Phật thọ, Ðạo thọ hay
là Bồ đề thọ.
38. Cam lồ diệt : Cam lồ
dụ cho Niết bàn; chứng đặng Niết bàn, dứt dòng sanh tử, gọi là “Cam lồ
diệt”.
39. Không tâm ý, không
thọ hành: Là không còn tâm niệm vọng tưởng phân biệt và tâm cảm giác xúc thọ,
thi vi động tác.
40. Ba lần chuyển pháp :
Tức tam chuyển pháp luân. Khi đức Phật Thích Ca mới thành đạo, nói pháp tứ đế
cho 5 thấy Tỳ Kheo ở vườn Lộc Uyển, ba phen nói thành mười hai hành... Pháp của
Phật dạy hay dẹp trừ phiền não của chúng sanh, như bánh xe hay cán dẹp cỏ rác,
cát, sạn, nên gọi là Pháp luân. Người nói giáo pháp để chuyển tâm ô nhiểm của
chúng sanh thành tâm thanh tịnh gọi là “Chuyển pháp luân”. Lại có nghĩa là
chuyển ba món : hoặc, nghiệp, khổ trở thành ba đức: Bát nhã, Giải thoát, Pháp
thân gọi là ba lần chuyển pháp.
41. Pháp hải: Biển pháp.
Phật pháp rộng lớn khó lường ví như bể cả.
42. Nhơn bảo : Phật là
đấng báu quí hơn hết trong cõi trời và cõi người .
43. Tam giới tôn : Ðức
Phật là đấng cao cả đầy đủ phước đức hơn hết trong 3 cõi, tất cả nhơn thiên đều
cung kính tôn trọng nên gọi là “Tam giới tôn”.
44. Pháp bát cộng : cũng
như thập bát bất cộng, có giải ở số 22.
45. Ðạo sư : Bậc dắt dẫn
chúng sanh đi vào chánh đạo; tên chung của Phật và Bồ Tát.
46. Kiết phược : Các
phiền não ràng buộc thân tâm làm cho không được tự tại giải thoát, nên phiền
não cũng gọi là “kiết phược”.
47. Không tịch: Không
các tướng là “Không”. Không khởi diệt là “tịch”. Rổng rang xa lìa tất cả tướng,
không tâm niệm khởi diệt gọi là hạnh “không tịch”.
48. Pháp tướng : Tướng
trạng sai khác của các pháp trong vũ trụ. Sách Ðại Thừa nghĩa chương quyển 2 nói
: “Tất cả pháp hữu vi, vô vi trong thế gian đều gọi là pháp tướng”.
49. Trực tâm : Tâm chơn
thật, không dua dối tà vạy; tâm chánh niệm chơn như.
50. Thâm tâm : Tâm mong
cầu Phật quả cao thâm; tâm ưa muốn nhóm góp gieo trồng tất cả công đức cao dày,
bền chắc, không thể dứt mất.
51. Bồ đề tâm : Tâm cầu
đạo lý chơn chánh, tâm mong đạo quả chánh giác.
52. Mười điều lành :
Thuận lý khởi tâm đối với cảnh không phạm 10 điều dữ :
1) Sát sanh; 2) Trộm cắp; 3) Tà dâm; 4) Nói dối; 5) Nói lời thêu dệt;
6) Nói hai lưỡi; 7) Nói lờỉ độc ác; 8) Tham; 9) Sân; 10) Si
mà thật hành những điều: phóng sanh, Bố thí, phạm hạnh, nói chắc thật, nói lời
chơn chánh, nói lời hòa hiệp, nói lời dịu dàng, chẳng ghét, chẳng giận, chẳng
tà kiến.
53. Ba mươi hai tướng
tốt :
1) Trên đỉnh đầu thịt nổi cao lên;
2) Lông trắng chặn giữa hai chơn mày (bạch hào);
3) Tròng mắt đen trắng phân minh;
4) Lông nheo dài đẹp như của Long vưong;
5) Gương mặt tròn trịa như mặt trăng rằm;
6) Răng đủ 40 cái;
7) Răng nhỏ đều khít khao;
8) Răng trắng trong tinh sạch;
9) Luỡi rộng dài khi le ra đến chơn tóc;
10) Tiếng nói thanh tao nghe rất xa;
11) Trong cổ hầu thường có chất nước cam lồ rịn ra;
12) Thân mình nở nang tròn suông;
13) Nam căn ẩn kín;
14) Hai bên hông đầy đặn;
15) Hal tay dài quá gối;
16) Cánh tay và bàn tay da thịt mềm dịu như bông;
17) Ngón tay dài và vót;
18) Vế như vế của Lộc vương;
19) Lưng hai bàn chân no tròn;
20) Lòng bàn chân bằng phẳng;
21) Gót chân tròn trịa;
22) Lòng bàn chân có chỉ xoáy tròn rõ ràng như bánh xe nghìn cọng; 23) Kẻ ngón
tay và ngón chân có da mỏng mịn như giăng lưới;
24) Bảy chỗ trong thân đều đầy đặn: (hai lòng bàn tay, hai lưng bàn chân, hai
vai và yết hầu);
25) Tất cả lỗ chơn lông đều có lông đẹp;
26) Lông và tóc đều xoáỵ tròn về phía hữu;
27) Da mịn màng trơn láng;
28) Màu da như màu vàng ròng tử kim;
29) Thân hình cao lớn hơn mọi người;
30) Hình tướng đoan nghiêm;
31) Thân hinh ngay thẳng vững vàng;
32) Thường có ánh sáng sắc vàng ròng chiếu ra một tầm.
54. Tứ vô lương tâm :
Cũng gọi là tứ đẳng tâm.
1) Từ : lòng ban vui cho chúng sanh ;
2) Bi : lòng cứu khổ chúng sanh ;
3) Hỷ : lòng vui mừng khi thấy người khỏi khổ được vui ;
4) Xả : lòng không chấp trước chỗ thật hành của ba tâm trên.
Từ nơi cảnh sở duyên (chúng sanh) nói là vô lượng; từ nơi tâm năng duyên (Bồ
Tát) mà khởi bình đẳng nên gọl là đẳng.
55. Tứ nhiếp pháp
:
1) Bố thí nhiếp : Bồ Tát dùng tài pháp bố thí nhiếp dẫn chúng sanh trụ nơi chơn
lý;
2) Ái ngữ nhiếp : Bồ tát hay tùy thuận căn tánh của chúng sanh và dùng lời nói
hay ho ủy dụ họ trụ nơi chơn lý ;
3) Lợi hành nhiếp : Bồ Tát khởi hạnh từ thiện nơl thân, khẩu, ý làm lợi ích cho
tất cả chúng sanh, nhơn đó họ được trụ nơi chơn lý.
4) Ðồng sự nhiếp : Bồ Tát dùng pháp nhãn thấy rõ căn tánh của chúng sanh, tùy
theo chỗ ưa muốn của họ mà phân hình thị hiện, khiến họ được thắm nhuần lợi
ích, nhơn đó họ được an trụ nơi chơn lý.
56. 37 phẩm trợ đạo : 4
pháp niệm xứ ; 4 pháp chánh cần ; 4 pháp như ý túc ; 5 căn ; 5 lục ; 7 pháp
giác chi ; 8 pháp đạo phần . 37 pháp này giúp cho người tu hành thành tựu được
đạo quả, nên gọi là trợ đạo, có giải rõ ở sau.
57. Hồi hướng tâm: Hồi:
Hồi chuyển; Hướng: thu hướng. Hồi hướng là khởi lòng đại bi cứu độ chúng sanh,
xoay chuyển công đức, căn lành hướng về ba chỗ: 1) Chỗ sở chúng chơn như thật
tế; 2) Chỗ sở cấu vô thượng Bồ đề; 3) Chỗ sở độ tất cả chúng sanh.
58. Ba đường ác : 1) Ðịa
ngục, 2) Ngạ quỉ, 3) Súc sanh.
59. Tám nạn :
1) Ðịa ngục ;
2) Ngạ quỉ ;
3) Súc sanh ;
4) Trường thọ thiên ;
5) Bắc cu lô châu ;
6) Ðui, điếc, ngọng, liệu ;
7) Thế trí biện thông,
8) Sanh trước Phật hay sau Phật.
Sở dĩ gọi là tám nạn là vì ở tám chỗ này dù cảm thọ quả khổ vui có khác, nhưng
đều không được thấy Phật, không được nghe chánh pháp.
60. Phạm hạnh : Giới
hạnh thanh tịnh, hạnh đoạn dâm dục.
61. Cung trời Tự tại :
Cung điện của trời Tự Tại Thiên Vương ở trên chót từng tứ thiền cõi sắc
giới.
62. Thần túc : Pháp thần
thông biến hóa tự tại vô ngại của Phật tu chứng.
63. Hữu vi : các pháp có
tạo tác, sanh diệt, tức là chỉ tất cả hiện tượng biến thiên trong vũ trụ
.
64. Trần cấu : Nghĩa là
bụi nhớp, tức là những sự mê lầm làm cho tâm phải mờ tối. Xa lìa trần cấu tức
dứt hết 88 phẩm kiến hoặc trong ba cõi.
65. Pháp nhãn thanh tịnb
: Thấy rõ được lý chơn thật của các pháp ; tiểu thừa chứng đưọc sơ quả, do đã
xa lìa trần cấu kiến hoặc, thấy rõ thật lý pháp tứ đế. Ðại thừa chứng được Vô
sanh pháp nhẫn vào bậc Sơ địa.
66. Kiết lậu : Các phiền
não kết dệt trong tự tâm, nên phiền năo cũng gọi là “kiết lậư”. Kiết lậu đã
hết, vì dứt trừ lòng ái nhiễm mê đắm không còn chấp thọ các pháp nên tâm ý được
giải thoát, chứng đến bực vô học (A la hán).
|
|
KINH DUY-MA-CẬT
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
* * * * *
II. PHẨM PHƯƠNG TIỆN
(1)
Thuở ấy, trong thành
lớn Tỳ Da Ly có ông Trưởng giả tên là DUY MA CẬT, đã từng cúng dường vô
lượng các Đức Phật, sâu trồng cội lành, đặng vô sanh pháp nhẫn, biện tài vô
ngại , du hí thần thông (2) chứng các môn tổng trì (3) , đặng sức vô úy,
hàng phục ma oán, thấu rõ Pháp môn (4) thâm diệu, khéo nơi trí độ, thông
đạt các Pháp phưong tiện, thành tựu đại nguyện, biết rõ tâm chúng sanh đến
đâu, hay phân biệt rành rẽ các căn lợi độn, ở lâu trong Phật đạo, lòng đã
thuần thục, quyết định nơi Ðại thừa. Những hành vi đều khéo suy lường, giữ
gìn đúng oai nghi của Phật, lòng rộng như bể cả, chư Phật đều khen ngợi, hàng
Đệ tử, Đế Thích, Phạm Vương, vua ở thế gian v.v... thảy đều kính
trọng.
Vì muốn độ người,
nên ông dùng phương tiện khéo thị hiện là thân Trưởng giả ở thành Tỳ
Da Ly, có của cải nhiều vô luợng để nhiếp độ các hạng dân nghèo ; giữ giới
thanh tịnh để nhiếp độ các kẻ phá giới ; dùng hạnh điều hòa nhẫn nhục để
nhiếp độ các người giận dữ ; dùng đại tinh tiến để nhiếp độ các kẻ biếng
nhác ; dùng nhất tâm thiền tịch để nhiếp độ kẻ tâm ý tán loạn ; dùng trí
tuệ quyết định để nhiếp độ những kẻ vô trí ; tuy làm người bạch y (5) cư sĩ
mà giữ gìn giới hạnh thanh tịnh của sa môn; tuy ở tại gia mà không đắm
nhiểm ba cõi (6), thị hiện có vợ con, nhưng thường tu phạm hạnh; hiện có
quyến thuộc , nhưng ưa sự xa lìa ; dù mặc đồ quí báu, mà dùng tướng tốt để
nghiêm thân ; dù có uống ăn mà dùng thiền duyệt (7) làm mùi vị. Nếu khi đến
chỗ cờ bạc, hát xướng thì ông lợi dụng cơ hội để độ người ; dù thọ các Pháp
ngoại đạo nhưng chẳng tổn hại lòng chánh tín ; tuy hiểu rõ sách
thế tục mà thường ưa Phật Pháp ; cung kính tất cả mọi người làm trên hết
trong sự cúng duờng ; nắm giữ chánh Pháp để nhiếp độ kẻ lớn người nhỏ ; tất
cả những việc trị sanh (buôn bán làm ăn) hùn hiệp, dù được lời lãi của đời,
nhưng chẳng lấy đó làm vui mừng. Dạo chơi nơi ngã tư đường cái để lợi ích
chung sanh ; vào việc trị chánh để cứu giúp tất cả ; đến chỗ giảng luận dẫn
dạy cho Pháp Ðại thừa ; vào nơi học đường dạy dỗ cho kẻ đồng mông ; vào chỗ
dâm dục để chỉ bày sự hại của dâm dục ; vào quán rượu mà hay lập chí. Nếu ở
trong hàng Trưởng giả, là bực tôn quý trong hàng Trưởng giả, giảng nói các
Pháp thù thắng ; nếu ở trong hàng cư sĩ, là bực tôn quí trong hàng cư sĩ,
dứt trừ lòng tham đắm cho họ ; nếu ở trong dòng Sát đế lợi (8), là bậc tôn
quý trong dòng Sát đế lợi, dạy bảo cho sự nhẫn nhục ; nếu ở trong dòng Bà
la môn (9), là bực tôn quí trong dòng Bà la môn, khéo trừ lòng ngã mạn của
họ ; nếu ở nơi Ðại thần, là bực tôn quí trong hàng Ðại thần, dùng chánh
pháp để dạy dỗ ; nếu ở trong hàng Vương tử, là bực tôn quí trong hàng Vương
tử, chỉ dạy cho lòng trung hiếu ; nếu ở nơi nội quan (10) , là bậc tôn quý
trong hàng nội quan, khéo dạy dỗ các hàng cung nữ ; nếu ở nơi thứ dân, là
bực tôn quí trong hàng thứ dân, chỉ bảo làm việc phước đức ; nếu ở nơi trời
Phạm thiên (11), là bực tôn quí trong Phạm thiên, dạy bảo cho trí tuệ thù
thắng; nếu ở nơi trời Đế Thích (12), là bực tôn quí trong Ðế thích, chỉ bày
cho Pháp vô thường ; nếu ở nơi trời Tứ thiên vương hộ thế (13), là bực tôn
quí trong Tứ thiên vương hộ thế, hằng ủng hộ chúng sanh. Trưởng giả Duy Ma
Cật dùng cả thảy vô lượng phương tiện như thế làm cho chúng sanh đều được
lợi ích.
Ông dùng phương tiện
hiện thân có bịnh. Do ông có bịnh nên các vi Quốc Vương, Ðại thần, Cư sĩ,
Bà la môn cả thảy cùng các vị Vương tử với bao nhiêu quan thuộc vô số nghìn
người đều đến thăm bịnh. Vì những người đến thăm bịnh, ông nhơn dịp thân
bịnh mới rộng nói Pháp : “Nầy các Nhân giả ! Cái huyễn thân này thật
là vô thường, nó không có sức, không mạnh không bền chắc, là vật mau hư
hoại, thật không thể tin cậy. Nó là cái ổ chứa nhóm những thứ khổ não bịnh
hoạn. Các Nhân giả ! Người có trí sáng suốt không bao giờ nương cậy nó. Nếu
xét cho kỹ, thì cái thân này như đống bọt không thể cấm nắm, thân này như
bóng nổi không thể còn lâu ; thân này như ánh náng dợn giữa đồng, do lòng
khát ái sanh, thân này như cây chuối không bền chắc ; thân này như đồ huyễn
thuật, do nơi điên đảo mà ra ; thân này như cảnh chiêm bao, do hư
vọng mà thấy có ; thân này như bóng của hình, do nghiệp duyên hiện ;
thân này như vang của tiếng, do nhân duyên thành ; thân này như mây nổi,
trong giây phút tiêu tan ; thân này như điện chớp sanh diệt rất mau lẹ,
niệm niệm không dừng ; thân này không chủ, như là đất ; thân này không có
ta, như là lửa ; thân này không trường thọ, như là gió ; thân này không có
nhân, như là nước ; thân này không thật, bởi tứ đại giả hợp mà thành ; thân
này vốn không, nếu lìa ngã và ngã sở ; thân này là vô tri, như cây cỏ,
ngói, đá ; thân này không có làm ra (vô tác) (14), do gió nghiệp chuyển lay
; thân này là bất tịnh, chứa đầy những thứ dơ bẩn ; thân này là giả dối,
dầu có tắm rửa ăn mặc tử tế rốt cuộc nó cũng tan rã ; thân này là tai họa,
vì đủ các thứ bịnh hoạn khổ não ; thân này như giếng khô trên gò, vì nó bị
sự già yếu ép ngặt ; thân này không chắc chắn, vì thế nào nó cũng phải chết
; thân này như rắn độc, như kẻ cướp giặc, như chốn không tụ (15) vì do ấm
(16), giới (17), nhập (18) hợp thành.
Các Nhân giả ! Hãy
nên nhàm chán cái thân này, chớ tham tiếc nó. Phải nên ưa muốn thân Phật.
Vì sao ? - Vì thân Phật là Pháp thân (19), do vô lượng công đức trí tuệ
sanh ; do giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến (20) sanh ; do
từ bi hỉ xả (21) sanh ; do Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Nhu hòa, Cần hành,
Tinh tấn, Thiền định, Giải thoát tam muội (22), Ða văn, Trí tuệ các Pháp Ba
la mật (23) sanh ; do Phương tiện sanh ; do Lục thông (24), Tam minh (25)
sanh ; do 37 phẩm trợ đạo (26) sanh, do Chỉ quán (27) sanh ; do Thập lực,
Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng (28) sanh ; do đoạn tất cả pháp bất thiện,
tu các pháp thiện sanh ; do chơn thật sanh; do không buông lung sanh; vô
lượng pháp thanh tịnh như thế sanh ra thân Như Lai.
Này các Nhân giả !
Muốn được thân Phật, đoạn tất cả bịnh chúng sanh thì phải phát tâm Vô
Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác (29).
Như vậy, Trưởng giả
Duy Ma Cật vì những người đến thăm bịnh, mà nói Pháp làm cho vô số nghìn
người đều phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Chú thích của phẩm
II
1. Phương tiện:
Phương là phưong pháp, tiện là tiện dụng ; phương pháp đem ra dùng thích
hợp căn cơ của mỗi chúng sanh, mỗi thời đại,. mỗi quốc độ nên gọi là phương
tiện.
2. Du hí thần thông:
Phật và Bồ Tát có thần thông tự tại vô ngại, vận dụng hóa độ chúng sanh,
làm sự vui chơi của mình, nên gọi là du hý. Lại có nghĩa: Bồ Tát đã lịch
thiệp các pháp thần thông, do từ chứng ngộ chơn tánh mà hiển phát, vận dụng
xuất nhập dễ dàng như chơi, không điều chi ngăn ngại, chẳng phải như thần
thông của nhà ngoại đạo, nhị thừa do tu luyện mà có, còn bị ngại, nên gọi
là du hí thần thông.
3. Tổng trì: Tiếng
Phạn gọi là Ðà la ni, Tàu dịch là Tổng trì, tức là chỉ cho công năng giữ
gìn các pháp lành khiến cho không mất, các pháp dữ không sanh, chia làm bốn
món :
1) Pháp Ðà la ni : với các Pháp Phật dạy nghe giữ gìn không quên.
2) Nghĩa Ðà la ni : với nghĩa các pháp giữ gìn không quên.
3) Chú Ðà la ni : do sức thiền định phát ra lời bí mật có thần hiệu không
lường.
4) Nhẫn Ðà la ni : an trú nơi thật tướng của các pháp.
Trong luận Phật Ðịa, quyển thứ 5 có nói : Ðà La ni là sức tăng thượng của
niệm tuệ hay giữ gìn vô lưọng Phật pháp.
4. Pháp môn: Giáo
pháp của Phật nói ra là phép tắc khuôn mẫu cho thế gian. Các bậc Hiền,
Thánh nương vào đó mà được nhập đạo, gọi là Pháp môn. Kinh Pháp Hoa, phẩm
Phương Tiện nói “... dùng chữ pháp môn tỏ bày Phật đạo”.
5. Bạch y: Danh từ
xưng gọi người thế tục, vì người thế tục ưa thích mặc y phục trắng nên gọi
là “bạch y”.
6. Ba cõi: Dục giới,
Sắc giới, Vô Sắc giới.
7. Thiền duyệt: Sự
vui thích trong cảnh thiền định. Khi nhập vào cảnh thiền định được nhàn
tịnh, thư thới làm cho vui thích tâm thần.
8. Sát Ðế Lợi:
(Ksatriya) tàu dịch là Ðiền chủ, giòng vua ở xứ Ấn Ðộ. Một họ trong bốn họ
: 1) Sát đế lợi, 2) Bà la môn, 3)Tỳ xá, 4)Thủ đà.
9. Bà la môn:
(Brahmana) Tàu dịch là Tịnh hạnh, một giòng họ tu hạnh trong sạch, thờ trời
Ðại phạm thiên, ở xứ Ấn Độ.
10. Nội quan: Quan
Bộ lại trong cung cấm nhà vua.
11. Phạm thiên: hoặc
Ðại phạm thiên vương là vua cõi trời sơ thiền nơi Sắc giới. Cõi sơ thiền có
3 từng trời : 1) phạm chúng, 2) Phạm phụ, 3) Ðại phạm, đã xa lìa sự dục
nhiễm ở cõi Dục giới, thân tâm yên tịnh trong sạch nên gọi là Phạm
thiên.
12. Ðế Thích: Là vị
trời chủ tể cõi Ðạo Lợi Thiên trên chót núi Tu Di. Từng trời này có 33 cõi
mà vị Ðế Thích ở cõi chính giữa thống lãnh 32 cõi kia.
13. Tứ Thiên Vương
hộ thế: Bốn vị ở bốn phía ngang lưng chừng núi Tu Di, làm vị ngoại tướng
giúp đỡ trời Ðế Thích coi sóc dân gian, mỗi vị ủng hộ mỗi châu thiên hạ nên
gọi là Tứ Thiên Vưong hộ thế :
1) Trì quốc thiên vương ở phương đông ;
2) Tăng trưởng thiên vương ở phương nam ;
3) Quảng mục thiên vương ở phương tây ;
4) Ða văn thiên vương ở phương bắc.
14. Vô tác: Không có
thi vi tạo tác, là ý nói cái thân do nhân duyên hiệp thành, không có chủ tể
nên nó không tự động tác chuyển vận được.
15. Như chốn không
tụ: Như chỗ tụ lạc (xóm làng) trống không, vắng vẻ có bọn giặc cướp nưong
ở, hoặc chỗ đồng trống có ác quỉ nhóm họp, là chỗ đáng ghê sợ, đáng nhàm
chán không thể nương ở được. Thân con người cũng như thế, do tứ đại họp
thành là đống không trơn, lại là ổ chứa nhóm tội lỗi, chiu mọi sự thống khổ
bịnh hoạn già chết ép ngặt, nên đáng nhàm chán xa lìa cũng như chốn không
tụ kia.
16. Ấm : Năm ấm :
sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
17. Giới : 18 giới :
6 căn : nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý ; 6 trần : sắc, thinh, huơng vị, xúc,
pháp ; 6 thức : nhãn thức, nhĩ thức, tỹ thức, thiệt thức, thân thức,
ý thức.
18. Nhập : 12 nhập :
sáu trần : sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp xung nhập với 6 căn : nhãn,
nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý.
19. Pháp thân : Là
pháp giới tánh hay là chơn như. Thân có nghĩa là nhóm họp, nên Pháp thân là
chỗ sở y chứa nhóm tất cả công đức Pháp tánh. Lại đức Phật lấy pháp tánh
chơn như làm thân, nên gọi là pháp thân.
20. Giới, Ðịnh, Tuệ,
Giải thoát, Giải thoát tri kiến : Năm món này gọi là ngũ phần Pháp thân
:
1) Thân, khẩu, ý xa lìa tất cả tội lỗi gọi là giới.
2) Chơn tâm đứng lặng lìa tất cả vọng niệm gọi là Ðịnh.
3) Chơn trí sáng suốt chiếu tỏ các pháp gọi là Tuệ.
4) Thân tâm giải thoát không bị triền phược gọi là giải thoát.
5) Biết mình thật giải thoát gọi là giải thoát tri kiến.
Người tu hành nhờ giới, định, tuệ làm nhơn mà chứng được thể giải thoát,
giải thoát tri kiến của Pháp thân là quả, nên gọi là ngũ phần pháp thân.
21. Từ, bi, hỉ, xả :
Xem số 5 về phần chú thích ở phẩm trước .
22. Tam muội : Tàu
dịch là Ðịnh Tâm, định trụ một cảnh, xa lìa những sự loạn động.
23. Ba la mật
(Paramita) : Tàu dịch có ba nghĩa 1) Cứu cánh, 2) Ðáo bỉ ngạn, 3) Ðộ vô
cực. Danh từ Ba la mật này là do đại hạnh của các vị Bồ Tát mà đặt tên.
Chính mình thật thành đại hạnh và giáo hóa cho người đến chỗ rốt ráo nên
gọi “sự cứu cánh”. Nương theo dại hạnh của Bồ Tát được từ bờ sanh tử bên
này tới bờ Niết bàn bên kia, nên gọi “đáo bỉ ngạn”. Nhờ đại hạnh mà được
các pháp rộng rãi sâu xa không bờ bến, nên gọi “Ðộ vô cực”.
24. Lục thông : Sáu
món thần thông :
1) Thiên nhãn thông : con mắt thấy xa đến cả đại thiên thế giới, những vật
nhỏ nhít như vi trùng, những vật có chất ngại, cản trở đều thấy được hết,
thấy rõ các chúng sanh trong nhiều kiếp lâu xa, chết ở cõi nào, sanh về cõi
nào đều thấy rõ rệt.
2) Thiên nhĩ thông : lỗ tai nghe xa đến cả thế giới, nhẫn đến tiếng rung
động hết sức nhỏ, những tiếng nói của các loại đều nghe được hết.
3) Tha tâm thông : hiểu biết được tâm nỉệm tư tưởng của tất cả chúng sanh.
4) Túc mạng thông : biết rõ những kiếp trước của mình và của chúng sanh
không điều gì ngăn ngại.
5) Thần túc thông : được các pháp thần thông biến hóa tự tại.
6) Lậu tận thông : trừ sạch hết thảy phiền não.
25. Tam minh :
l) Túc mạng minh : biết được những việc sống chết đời trước của mình và của
tất cả chúng sanh .
2) Thiên nhãn minh : biết được những việc sống chết đời sau của mình và của
tất cả chúng sanh.
3) Lậu tận minh : biết được những sự khổ hiện tại, dùng trí tuệ trừ sạch
hết các phiền não.
26. Ba mươl bảy phẩm
trợ đạo : 4 pháp niệm xứ ; 4 pháp chánh cần ; 4 pháp như ý túc ; 5 căn ; 5)
lực ; 7 pháp giác chi ; 8 pháp đạo phần. 37 pháp này giúp cho người tu hành
thành tựu đưọc đạo quả nên gọi là trợ dạo.
4 pháp niệm xứ: niệm
]à tâm năng quán (tâm hay quán sát), xứ là cảnh sở quán (cảnh bị quán sát).
Vì chúng sanh vọng chấp thân ngũ ấm này, nên Phật nói 4 phép quán để đối
trị :
1) Quán thân bất
tịnh : Quán sát thân này là vật nhơ bẫn.
2) Quán thọ là khổ: Quán sát sự thọ lãnh của thân tâm là khổ.
3) Quán tâm vô thuờng : Quán sát tâm thức luôn luôn sanh diệt không thường
trụ .
4) Quán sát vô ngã: Quán sát các pháp không có chủ tể.
4 pháp chánh
cần:
1) Ðoạn những ác pháp đã sanh ;
2) Ðoạn những ác pháp chưa sanh ;
3) Làm cho các pháp lành tăng trưởng ;
4) Làm cho các pháp lành chưa sanh được sanh.
4 pháp như ý túc
:
1) Dục như ý túc : có tâm ham muốn tu tập các pháp lành thì được như
ý.
2) Niệm như ý túc : quán sát cảnh gì mà nhứt tâm chuyên chú vào đó
thì được như ý.
3) Tinh tấn như y túc : do tinh tấn mà tu tập các pháp lành được như
ý.
4) Tư duy như ý túc : do suy nghĩ mà tu tập được kết quả.
5 căn :
1) Tín căn : tin theo chánh đạo và trợ đạo.
2) Tinh tấn căn : là sự dõng mãnh tu theo thiện pháp ;
3) Niệm căn : ghi nhớ các pháp chánh đạo và trợ đạo ;
4) Ðịnh căn : nhiếp tâm theo chánh đạo ;
5) Huệ căn : nhờ có dịnh mà chân tánh tự sáng suốt không phải ở ngoài vào.
5 lực: cũng như ngũ
căn nhưng vì thật hành theo ngũ căn thì căn lành có sanh, song gốc ác chưa
phá hết nên phải gia công tu tập thêm khiến cho thiện căn tăng trưởng. Khi
thiện căn thành thục, các ác pháp khỏng còn, nên gọi là ngũ lực.
7 pháp giác chi:
Giác là tỏ, nghĩa là tỏ biết pháp tu chơn hay ngụy. Chi là ngành, nghĩa là
7 pháp này có chi phái khác nhau không xen lẫn nhau nên gọi là 7 pháp giác
chi hay là 7 pháp giác phần :
l) Trạch pháp giác chi : dùng trí tuệ quan sát các pháp, giản trạch rõ ràng
chơn ngụy.
2) Tinh tấn giác chi : dõng mãnh chuyên tâm tu tập các pháp chơn chánh.
(Không làm theo những khổ hạnh sai lầm của ngoại đạo) luôn luôn không gián
đoạn.
3) Hỉ giác chi : Khởi tâm vui mừng khi ngộ được chơn pháp. Mừng này chẳng
phải như những lối mừng theo các việc thường tình điên đảo hư vọng, mà là
mừng được an trụ nơi pháp chơn chánh.
4) Trừ giác chi : đoạn trừ phiền não thô trọng làm cho thân tâm nhẹ nhàng
thư thới, xa lìa các pháp hư giả, tăng trưởng công đức chơn thiện.
5) Xả giác chi : lìa bỏ tất cả pháp chơn, vọng, lòng rổng rang bình đẳng
không tưởng dến.
6) Ðịnh giác chi : nhứt tâm an trụ một cảnh, xa lìa vọng tưởng tán loạn.
7) Niệm giác chi : thường ghi nhớ pháp tu rõ ràng khiến cho định, tuệ bình
đẳng.
Lúc tâm hôn trầm nhớ ngay đến ba chi giác : trạch pháp, tinh tấn, hỉ giác
mà quán sát các pháp cho khỏi hôn trầm. Lúc tâm loạn vu vơ, nghĩ ngay đến
ba chi : “Trừ giác” để trừ sạch các lỗii vê thân miệng ; “Xả giác” để xả
tiêu cái trí quán sát ; “Ðịnh giác” để vào nơi chánh định thu nhiếp cái tâm
tán loạn, cho khòi xao động vu vơ.
8 pháp đạo phần:
1) Chánh kiến : sự hiểu biết chơn chánh.
2) Chánh tu duy : sự suy nghĩ chơn chánh.
3) Chánh ngữ : nói những lời chơn chánh không hư vọng.
4) Chánh nghiệp : hành động chơn chánh.
5) Chánh mạng : lấy sự khất thực để nuôi sống thân mạng.
6) Chánh tinh tấn : tu theo giới, định. tuệ một lòng tinh chuyên không gián
đoạn.
7) Chánh niệm : ghi nhớ nhữmg pháp chơn chánh.
8) Chánh định : thu nhiếp thân tâm thường được tịch tịnh.
27. Chỉ quán : Tiếng
Phạn là Xa ma tha Tỳ bác xá na, Tàu dịch là chỉ quán hay là định tuệ, tịch
chiếu, minh tịnh. Chỉ : là ngăn dửt tư tuởng vọng niệm, đoạn trừ giác quán
sai lầm, đối với đế lý không lay động. Quán : là trí quán sát phân biệt,
hiểu rõ danh tướng các pháp nhơn duyên sanh diệt, khế hội vào lý chơn như.
28. Thập lực, tứ vô
sở úy, thập bát bất cộng : đã giải nơi phẩm trước.
29. Vô thượng chánh
đẳng chánh giác : chỗ giác ngộ của Phật không còn ai hơn nữa gọi là Vô
thượng, xa lìa tà vọng gọi là Chánh, ngộ được chơn lý nên gọi là
Giác. Phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác là phát tâm mong cầu trí
giác vô thượng, quả Phật cứu cánh.
|
|
KINH DUY-MA-CẬT
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
* * * * *
III. PHẨM ĐỆ TỬ (1) ...
XÁ LỢI PHẤT (2)
Lúc bấy giờ, Trưởng giả
Duy Ma Cật nghĩ thầm rằng :
– Nay ta bịnh nằm ở giuờng, Thế Tôn là đấng Đại từ, lẽ đâu không đoái lòng
thương xót !
Phật đã biết ý ông, liền
bảo Xá Lợi Phất rằng:
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Xá Lợi Phất bạch Phật:
– Bạch Thế Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? - Nhớ lại
trước kia, con từng ở trong rừng ngồi yên lặng (tọa thiền) dưới gốc cây, khi ấy
ông Duy Ma Cật đến bảo con rằng : “Thưa Ngài Xá Lợi Phất ? Bất tất ngồi sững đó
mới là ngồi yên lặng. Vả chăng ngồi yên lặng là ở trong ba cõi mà không hiện
thân ý, mới là ngồi yên lặng; không khởi diệt tận định(3) mà hiện các oai nghi,
mới là ngồi yên lặng ; không rời đạo pháp mà hiện các việc phàm phu, mới là
ngồi yên lặng ; tâm không trụ trong cũng không ở ngoài mới là ngồi yên lặng ;
đối với các kiến chấp không động mà tu ba mươi bảy phẩm trợ đạo mới là
ngồi yên lặng; không đoạn phiền não mà vào Niết bàn(4) mới là ngồi yên
lặng. Nếu ngồi được như thế là chỗ Phật ấn khả (chứng nhận) vậy”.
Bạch Thế Tôn, lúc ấy con
nghe nói những lời đó rồi, im lặng không trả lời đặng, nên con không dám đến
thăm bịnh ông.
MỤC KIỀN LIÊN (5)
Phật bảo Đại Mục Kiền
Liên:
– Ông đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Mục Kiền Liên bạch Phật
:
– Bạch Thế Tôn ! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? Nhớ
lại trước kia, con vào trong thành Tỳ Da Ly ở trong xóm làng nói Pháp cho các
hàng cư sĩ nghe, lúc ấy ông Duy Ma Cật đến bảo con rằng : “Này Ngài Đại
Mục Kiền Liên, nói Pháp cho bạch y cư sĩ, không phải như Ngài nói đó. Vả chăng
nói Pháp phải đúng như pháp (xứng tánh) mà nói. Pháp không chúng sanh, lìa
chúng sanh cấu(6); pháp không có ngã, lìa ngã cấu, Pháp không có thọ mạng, lìa
sanh tử ; Pháp không có nhơn, làn trước làn sau đều dứt ; Pháp thường vắng
lặng, bặt hết các tướng ; Pháp lìa các tướng, không phải cảnh bị duyên ; Pháp
không danh tự, dứt đường ngôn ngữ ; Pháp không nói năng, lìa giác quán(7) ;
pháp không hình tướng; như hư không; Pháp không hí luận, rốt ráo là không ;
Pháp không ngă sở(8), lìa ngã sở ; Pháp không phân biệt, lìa các thức ; Pháp
không chi so sánh, không có đối đãi ; Pháp không thuộc nhân, không nhờ duyên,
Pháp đồng pháp tánh, khắp vào các Pháp ; Pháp tuy nơi như, không có chỗ tùy ;
Pháp trụ thật tế(9), các bên (hữu, vô, thường, đoạn) không động được ; Pháp
không lay động, không nương sáu trần(10) ; Pháp không tới lui, thường không
dừng (trụ) ; Pháp thuận “không”, tùy “vô tướng”, ứng “vô tác”(11) ; Pháp lìa
tốt xấu ; Pháp không thêm bớt ; Pháp không sanh diệt ; Pháp không chỗ về ; Pháp
ngoài mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; Pháp không cao thấp : Pháp thường trụ không
động ; Pháp lìa tất cả quán hạnh. Thưa Ngài Đại Mục Kiền Liên ! Pháp tướng như
thế đâu có thể nói ư ?
Vả chăng người nói Pháp,
không nói, không dạy, còn người nghe, cũng không nghe không được. Ví như nhà
huyễn thuật nói Pháp cho người huyễn hóa nghe, phải dụng tâm như thế mà nói
Pháp. Phải biết căn cơ của chúng sanh có lợi độn, khéo nơi tri kiến không bị
ngăn ngại, lấy tâm đạì bi ngợi khen Pháp Đại thừa, nghĩ nhớ đền trả ơn Phật,
chớ để ngôi Tam Bảo dứt mất, như vậy mới nên nói Pháp”.
Khi ông Duy Ma Cật nói
Pháp ấy rồi, tám trăm Cư sĩ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Con không
được biện tài như thế, nên không dám lãnh đến thăm bịnh ông.
ĐẠI CA DIẾP (12)
Phật bảo Đại Ca Diếp :
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Ca Diếp bạch Phật :
– Bạch Thế Tôn ! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Là vì sao? - Con nhớ
lại trước kia, khi khất thực trong xóm nhà nghèo, lúc ấy ông Duy Ma Cật đến nói
với con rằng : Này Ngài Đại Ca Diếp! Có lòng từ bi mà không phổ cập là bỏ nhà
giàu mà đi đến nhà nghèo. Ngài Ca Diếp ! Ở Pháp bình đẳng nên đi khất thực theo
thứ lớp. Vì không ăn mà đi khất thực ; vì phá tướng hòa hiệp mà bốc cơm
ăn ; vì không nhận mà nhận món ăn của người ; vì tưởng “không tụ” mà vào làng
xóm ; có thấy sắc cũng như người đui ; có nghe tiếng cũng như vang ; có ngửi
mùi cũng như gió ; lúc nếm vị không phân biệt ; chạm các vật như trí chứng(13)
; biết các Pháp tướng như huyễn, không tự tánh, không tha tánh, trước vốn không
sanh, nay cũng không diệt. Ngài Ca Diếp ? Nếu có thể không bỏ bát tà(14) mà vào
bát giải thoát(15), dùng tướng tà mà vào Chánh pháp, dùng một bữa ăn mà
thí cho tất cả, cúng dường chư Phật và các bực Hiền Thánh rồi sau mới ăn. Ăn
như thế, không phải có phiền não, không phải rời phiền não, không phải vào định
ý(15), không phải ra định ý, không phải ở thế gian, không phải ở Niết bàn,
người thí không có phước lớn, không có phước nhỏ, không được lợi ích, không bị
tổn hại, đó chính là vào Phật đạo, không nương theo hạnh Thanh Văn. Ngài Ca
Diếp ? Nếu ăn như thế là ăn đồ cúng thí của người không uổng vậy.
Bạch Thế Tôn ! Lúc đó
con nghe ông Duy Ma Cật nói lời ấy tỏ ngộ được điều chưa từng có, càng sâu khởi
tâm cung kính tất cả các vị Bồ Tát. Con lại nghĩ rằng : “Kẻ danh gia này có
biện tài trí tuệ mới được như thế ? Ai nghe mà chẳng phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác ? Từ ấy đến nay, con chẳng còn đem hạnh Thanh Văn(17), Bích Chi Phật
(18) để khuyên dạy người, vì thế nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.
TU BỒ ĐỀ (19)
Phật bảo Tu Bồ Đề :
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Tu Bồ Đề bạch Phật :
– Bạch Thế Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? - Nhớ lại thuở
trước, con vào khất thực nơi nhà ông, lúc đó trưởng giả Duy Ma Cật lấy cái bát
của con đựng đầy cơm rồi nói với con rằng : “Thưa Ngài Tu Bồ Đề ! Đối với cơm
bình đẳng, thì các Pháp cũng bình đẳng, các Pháp bình đẳng thì cơm cũng bình
đẳng, đi khất thực như thế mới nên lãnh món ăn. Như Tu Bồ Đề không trừ dâm nộ
si cũng không chung cùng với nó, không hoại
thân mình mà theo một tướng, không dứt si ái sanh ra giải thoát, ở tướng ngũ
nghịch(20) mà đặng giải thoát, không mở cũng không buộc, không thấy tứ đế(21)
cũng không phải không thấy tứ đế, không phải đắc quả cũng không phải không đắc
quả, không phải phàm phu cũng không phải rời phàm phu, không phải thánh nhơn,
không phải không thánh nhơn, tuy làm nên tất cả các Pháp mà rời tướng các Pháp,
thế mới nên lấy món ăn. Như Tu Bồ Đề
không thấy Phật không nghe Pháp, bọn lục sư ngoại đạo(22) kia như Phú Lan Na Ca
Diếp, Mạc Dà Lê Câu Xa Lê Tử , San Xà Dạ Tỳ La Chi Tử , A Kỳ Đa Xy Xá
Khâm Ba La, Ca La Cưu Đà Ca Chiên Diên, Ni Kiền Đà Nhã Đề Tử là thầy của Ngài.
Ngài theo bọn kia xuất gia, bọn lục sư kia đọa, Ngài cũng đọa theo, mới nên lấy
món ăn. Tu Bồ Đề ! Nếu Ngài vào nơi tà kiến, không đến bờ giác, ở nơi tám
nạn, không được khỏi nạn, đồng với phiền não, lìa Pháp thanh tịnh, Ngài được vô
tránh tam muội(23), tất cả chúng sanh cũng được tam muội ấy, những người thí
cho Ngài chẳng gọi phước điền, những kẻ cúng dường cho Ngài đọa vào ba đường
ác(24), Ngài cùng với ma nắm tay nhau làm bạn lữ, Ngài cùng với các ma và các
trần lao như nhau không khác, đối với tất cả chúng sanh mà có lòng oán hận,
khinh báng Phật, chê bai Pháp, không vào số chúng (Tăng), hoàn toàn không được
diệt độ, nếu Ngài được như thế mới nên lấy món ăn.
Bạch Thế Tôn ! Lúc đó
con nghe những lời ấy rồi mờ mịt không biết là nói gì, cũng không biết lấy lời
chi đáp, con liền để bát lại muốn ra khỏi nhà ông. Ông Duy Ma Cật nói : Thưa
Ngài Tu Bồ Đề! Ngài lấy bát chớ sợ ? Ý Ngài nghĩ sao ? Như Phật biến ra một
người huyễn hóa và nếu người huyễn hóa đó đem việc này hỏi Ngài, chừng ấy Ngài
có sợ chăng ? - Con đáp : “Không sợ !”. Trưởng giả Duy Ma Cật lại nói : Tất cả
các Pháp như tướng huyễn hóa, Ngài không nên có tâm sợ sệt. Vì sao
? – Vì tất cả lời nói năng không lìa tướng huyễn hóa, chí như người trí không
chấp văn tự nên không sợ. Vì sao thế ? - Tánh văn tự vốn ly, không có văn tự đó
là giải thoát. Tướng giải thoát đó là các Pháp vậy”.
Khi ông Duy Ma Cật nói
Pháp ấy rói, hai trăm Thiên Tử được Pháp nhãn thanh tịnh. Vì thế, nên con không
kham lãnh đến thăm bịnh ông.
PHÚ LÂU NA (25)
Phật bảo Phú Lâu Na Di
Đa La Ni Tử :
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Phú Lâu Na bạch Phật :
– Bạch Thế Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao ? Nhớ lại trước
kia con ở trong rừng lớn, dưới gốc cây nói Pháp cho các Tỳ Kheo mới học, lúc đó
ông Duy Ma Cật đến bảo con : “Thưa Phú Lâu Na ! Ngài nên nhập định trước để
quán sát tâm địa của những người này, rồi sau mới nên nói Pháp. Ngài chớ đem
món ăn dơ để trong bát báu, phải biết rõ tâm niệm của các vị Tỳ kheo này, chớ
cho ngọc lưu ly đồng với thủy tinh, chớ nên dùng pháp tiểu thừa mà phát khởi
cho họ, những người kia tự không có tì vết, chớ làm cho họ có tì vết, họ muốn
đi đường lớn, chớ chỉ lối nhỏ. Ngài chớ nên đem biển lớn để vào dấu chơn
trâu, chớ cho ánh sáng mặt trời đồng với lửa đom đóm. Ngài Phú Lâu Na ! Những
vị Tỳ kheo này đã phát tâm đại thừa từ lâu, giữa chừng quên lãng, nay tại sao
lại lấy pháp tiểu thừa dẫn dạy họ? Tôi xem hàng tiểu thừa trí tuệ cạn cợt cũng
như người mù, không phân biệt được căn tánh lợi độn của chúng sanh.
Lúc bấy giờ ông Duy Ma
Cật liền nhập tam muội (chánh định) làm cho những vị Tỳ kheo đó biết được kiếp
trước của mình đã từng ở 500 đức Phật vun trồng các cội đức, hồi hướng về đạo
vô thượng chánh đẳng chánh giác, liền đó rỗng suốt trở lại đặng bổn tâm (Đại
thừa). Khi ấy, các vị Tỳ kheo cúi đầu đãnh lễ nơi chơn ông Duy Ma Cật, ông liền
nhân đó nói pháp làm cho tất cả không còn thối lui nơi đạo vô thượng Bồ Đề.
Con nghĩ hàng Thanh Văn
như con không quán được căn cơ của người, không nên nói Pháp. Vì thế con không
kham lãnh đến thăm bịnh ông.
MA HA CA CHIÊN DIÊN (26)
Phật bảo Ma Ha Ca Chiên
Diên :
– Ông đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Ca Chiên Diên bạch Phật
:
– Bạch Thế Tôn ! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? Nhớ lại lúc
trước, Phật nói lược qua yếu chỉ các Pháp cho các Tỳ Kheo nghe, sau khi đó, con
diễn nói lại nghĩa ấy, là những nghĩa vô thường(27), khổ(28), không(29), vô
ngã(30), và tịch diệt(31).
Lúc bấy giờ ông Duy Ma
Cật đến nói với con rằng. Thưa Ngài Ca Chiên Diên ! Ngài chớ nên đem tâm
hạnh sanh diệt mà nói Pháp thật tướng(32). Ngài Ca Chiên Diên ! Các Pháp rốt
ráo không sanh, không diệt là nghĩa “vô thường” ; năm ấm rỗng không,
không chỗ khởi là nghĩa “khổ” ; các Pháp rốt ráo không có, là nghĩa “không” ;
ngã và vô ngã không hai, là nghĩa “vô ngã” ; Pháp trước không sanh, nay cũng
không diệt, là nghĩa “tịch diệt”.
Khi ông Duy Ma Cật nói
Pháp ấy xong, các Tỳ Kheo kia tâm được giải thoát. Vì thế, nên con không kham
lãnh đến thăm bịnh ông.
A NA LUẬT(33)
Phật bảo A Na Luật :
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
A Na Luật bạch Phật :
– Bạch Thế Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? - Nhớ lại lúc
trước con đi kinh hành một chỗ nọ, khi ấy có vị Phạm Vương tên Nghiêm Tịnh,
cùng với một muôn Phạm Vương khác, phóng ánh sáng trong sạch rực rỡ đến chỗ con
cúi đầu làm lễ và hỏi : “Thưa Ngài A Na Luật ? Thiên nhãn của Ngài thấy xa được
bao nhiêu ?”. Con liền đáp : “Nhơn giả, tôi thấy cõi Tam thiên Đại thiên thế
giới của Phật Thích Ca Mâu Ni đây như thấy
trái Am-ma-lặc(34) trong bàn tay vậy. Lúc đó ông Duy Ma Cật đến nói với con:
“Thưa Ngài A Na Luật ? Thiên nhãn của Ngài thấy đó làm ra tướng mà thấy hay là
không làm ra tướng mà thấy ? Nếu như làm ra tướng thì khác gì ngũ thông(35) của
ngoại đạo, nếu không làm ra tướng thì là vô vi, lẽ ra không thấy ? Bạch Thế
Tôn ! Lúc ấy con nín lặng.
Các vị Phạm thiên nghe ông
Duy Ma Cật nói lời ấy rồi đặng chỗ chưa từng có, liển làm lễ hỏi ông rằng “Bạch
Ngài ở trong đời ai là người có chơn thiên nhãn (36) ?”.
Trưởng giả Duy Ma Cật
đáp : “Có Phật Thế Tôn được chơn thiên nhãn, thường ở tam muội, thấy suốt các
cõi Phật không có hai tướng” .
Khi ấy Nghiêm Tịnh Phạm
vương cùng quyến thuộc năm trăm Phạm Vương đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác, đảnh lễ dưới chơn ông Duy Ma Cật rồi bỗng nhiên biến mất. Vì thế,
nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.
ƯU BA LY (37)
Phật bảo Ưu Ba Ly :
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Ưu Ba Ly bạch Phật :
– Bạch Thế Tôn ! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? -
Con nhớ lại ngày trước có hai vị Tỳ Kheo phạm luật hạnh, lấy làm hổ thẹn, không
dám hỏi Phật, đến hỏi con rằng : “Dạ thưa Ngài Ưu Ba Ly ! Chúng tôi phạm luật
thật lấy làm hổ thẹn, không dám hỏi Phật, mong nhờ Ngài giải rõ chỗ nghi hồi
cho chúng tôi được khỏi tội ấy”. Con liền y theo pháp, giải nói cho hai vị.
Bấy giờ ông Duy Ma Cật
đến nói với con : “Thưa Ngài Ưu Ba Ly, Ngài chớ kết thêm tội cho hai vị Tỳ Kheo
này, phải trừ dứt ngay, chớ làm rối loạn lòng họ. Vì sao ? - Vì tội tánh kia
không ở trong, không ở ngoài, không ở khoảng giữa. Như lời Phật nói : “Tâm nhơ
nên chúng sanh nhơ, tâm sạch nên chúng sanh sạch. Tâm cũng không ở trong,
không ở ngoài, không ở khoảng giữa. Tâm kia như thế nào, tội cấu cũng như thế
ấy. Các Pháp cũng thế không ra ngoài chơn như. Như Ngài Ưu Ba Ly, khi tâm
tướng được giải thoàt thì có tội cấu chăng ?”. Con đáp : “Không”. Ông Duy Ma
Cật nói : “Tất cả chúng sanh tâm tướng không nhơ cũng như thế ? Thưa Ngài
Ưu Ba Ly ! Vọng tưởng là nhơ, không vọng tưởng là sạch ; điên đảo là nhơ, không
điên đảo là sạch ; chấp ngã là nhơ, không chấp ngã là sạch. Ngài Ưu Ba Ly ? Tất
cả pháp sanh diệt không dừng, như huyễn, như chớp ; các Pháp không chờ nhau cho
đến một niệm không dừng ; các Pháp đều là vọng kiến, như chiêm bao, như nắng
dợn, như trăng dưới nước, như bóng trong gương, do vọng tưởng sanh ra. Người
nào biết nghĩa này gọi là giữ luật, người nào rõ nghĩa này gọi là khéo hiểu.
Lúc đó hai vị Tỳ Kheo
khen rằng : “Thật là bực thuợng trí ? Ngài Ưu Ba Ly này không thể sánh kịp Ngài
là bực giữ luật hơn hết mà không nói được”.
Con đáp rằng : “Trừ đức
Như Lai ra, chưa có bực Thanh Văn và Bồ Tát nào có thể chế phục được chỗ nhạo
thuyết biện tài(38) của ông Duy Ma Cật. Trí tuệ của ông thông suốt không
lường”.
Khi ấy, hai vị Tỳ kheo
dứt hết nghi hối, phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và phát nguyện
rằng : “Nguyện làm cho tất cả chúng sanh đều được biện tài như vậy”. Vì thế,
nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.
LA HẦU LA(39)
Phật bảo La Hầu La :
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
La Hầu La bạch Phật :
– Bạch Thế Tôn ! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? - Nhớ lúc trước
kia, các Trưởng giả tử ở thành Tỳ Da Ly đến con cúi đầu làm lễ hỏi rằng ? “Thưa
Ngài La Hầu La, Ngài là con của Phật vì đạo bỏ ngôi Chuyển Luân Vương(40)
mà xuất gia, việc xuất gia đó có những lợi ích gì ?”. Con liền đúng theo Pháp
mà nói sự ích lợi của công đức xuất gia. Lúc đó, ông Duy Ma Cật đến nói với con
rằng : “Thưa La Hầu La ! Ngài không nên nói cái lợi của công đức xuất gia. Vì
sao ? – Không lợi không công đức, mới thật là xuất gia. Về pháp hữu vi(41) có
thể nói là có lợi, có công đức còn xuất gia là pháp vô vi(42), trong pháp vô vi
không lợi, không công đức - La Hầu La ? Vả chăng xuất gia là không kia, không
đây, cũng không ở chính giữa ; ly sáu mươi hai môn kiến chấp(43), ở nơi Niết
bàn, là chỗ nhận của ngưỡi trí, chỗ làm của bực Thánh, hăng phục các ma, khỏi
ngũ đạo(44), sạch ngũ nhãn(45), đặng ngũ lực(46), lập ngũ căn(47), không làm
náo người khác, rời các tạp ác(48), dẹp các ngoại đạo, vượt khỏi giả danh, ra
khỏi bùn lầy ; không bị ràng buộc, không ngã sở, không chỗ thọ, không rối loạn
trong lòng, ưa hộ trợ ý người khác, tùy thiền định, rời các lỗi. Nếu được như
thế mới thật là xuất gia”.
Khi ấy, ông Duy Ma Cật
bảo các Trưởng giả tử : “Các ngươi nay ở trong Chánh Pháp nên cùng nhau xuất
gia. Vì sao ? - Phật ra đời khó gặp”.
Các Trưởng giả tử nói :
– Thưa Cư sĩ, chúng tôi nghe Phật dạy : “Cha mẹ không cho, không
được xuất gia”.
Ông Duy Ma Cật nói :
– Phải, các ngươi nếu phát tâm Vô Thượng Bồ Đề(49), đó chính là xuất gia, đó
chính là đầy đủ Giới Pháp.
Bấy giờ ba mươì hai vị
Trưởng g,iả tử đều phát tâm Vô Thượng Bồ Đề. Vì thế, nên con không kham lãnh
đến thăm bịnh ông.
A NAN (50)
Phật bảo A Nan :
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
A Nan bạch Phật :
– Bạch Thế Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Là vì sao ? - Nhớ lại
lúc trước, Thế Tôn thân hơi có bịnh phải dùng sữa bò, con cầm bát đến đứng
trước cửa nhà người đại Bà la môn. Lúc bấy giờ ông Duy Ma Cật đến bảo con :
“Này A Nan ? Làm gì cầm bát đứng đây sớm thế ?”.
Con đáp : “Cư sĩ, Thế
Tôn thân hơi có bịnh phải dùng sữa bò, nên tôi đến đây xin sữa”.
Ông Duy Ma Cật nói :
“Thôi thôi ! Ngài A Nan chớ nói lời ấy ! Thân Như Lai là thể kim cang(51), các
ác đã dứt, các lành khắp nhóm, còn có bịnh gi, còn có não gì ? - Im lặng bước
đi, Ngài A Nan ! Chớ phỉ báng Như Lai, chớ cho người khác nghe lời nói thô ấy,
chớ làm cho các trời oai đức lớn và các Bồ Tát từ Tịnh độ phương khác đến đây
nghe được lời ấy ! Ngài A Nan ! Chuyển Luân Thánh Vương có ít phước báu còn
không tật bịnh, huống chi Như Lai phước báu nhiều hơn tất cả đấy ư ? Hãy đi
Ngài A Nan ? Chớ làm cho chúng tôi chịu sự nhục đó, hàng ngoại đạo Phạm Chí nếu
nghe lời ấy, chắc sẽ nghĩ rằng : “Sao gọi là Thầy, bịnh của mình không cứu nổi
mả cứu được bịnh ngươi khác ư ?” Nên lẽn đi mau, chớ để cho người nghe ! Ngài A
nan ! Phải biết thân Như Lai, chính là Pháp Thân(52), không phải thân tư dục
(53). Phật là bực Thế Tôn hơn hết ba cõi, thân Phật là vô lậu(54), các lậu đã
hết, thân Phật là vô vi, không mắc vào các số lượng, thân như thế còn có bịnh
gì ?”.
Bạch Thế Tôn ! Lúc đó
con thật quá hổ thẹn không lẽ con gần Phật mà nghe lầm ư ? Con liền nghe trên
hư không có tiếng nói rằng : “A Nan ! Đúng như lời Cư sĩ đã nói, chỉ vì Phật
ứng ra đời ác đủ năm món trược (55) nên hiện ra việc ấy, để độ thoát chúng sanh
thôi. A Nan! Hãy đi lấy sữa chớ có thẹn”.
Bạch Thế Tôn ! Ông Duy
Ma Cật trí tuệ biện tài dường
ấy, cho nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.
Như vậy, năm trăm vị đại
đệ tử mỗi người đếu đối trước Phật trình bày chỗ bổn duyên(56) của mình, vị nào
cũng khen ngợi, thuật lại những lời của ông Duy Ma Cật và đều nói : “Không kham
lãnh đến thăm bịnh ông”.
Chú thích của phẩm III
1. Ðệ tử : Em, con,
nghĩa là theo đạo thầy trò, thời Thầy coi trò như em, nên dùng theo cách đối
với người em và cư xử. Trò thờ Thầy như cha, nên lấy theo đạo lý con người mà
phụng sự Thầy. Thầy trò đối đãi với nhau nên xưng là “Ðệ tử”. Lại có nghĩa : Giác
ngộ sau Phật gọi là em (đệ). Trí giác ngộ nhờ Phật phát sinh gọi là con (tử).
Hai chữ “Ðệ tử”, ở đây chuyên chỉ cho hàng Thanh Văn. Dẫu biết rầng Phật là Ðạo
sư trong ba cõi, cha lành của bốn loài, thời ai chẳng phải là đệ tử của Phật.
Nhưng vì hàng Thanh Văn là những bậc xuất gia, theo Phật nghe pháp, hiểu biết,
ngộ đạo chứng quả, nhiếp về số chúng tăng giữ gìn ngôi Tam Bảo, làm mô phạm cho
ba cõi, hằng theo hầu Phật châu du giáo hóa khắp nơi. Chắng phải như hàng tại
gia, tuy tin Phật mà còn phụng sự quân thân, hàng Bồ Tát dù khế hợp Phật đạo,
mà lại tùy cơ tùy chỗ ứng hiện giáo hóa không định, nên trong kinh thường gọi
Ðệ tử là riêng chỉ cho hàng Thanh Văn vậy.
2. Xá Lợi Phất :
(Sariputra) Tàu dịch là “Thu tử”, nghĩa là con bà “Thu Lộ”. Ông là người trí
tuệ cao siêu, biệt tài mẫn thiệp. Khi ông còn ở trong bụng mẹ, đã xui cho mẹ
biện luận giỏi hơn người cậu là Cu Si La (Kansthla). Ðến khi ông lên 8 tuổi đã
có tài diễn thuyết, cả 16 nước không ai nghi luận bằng. Sau ông theo học đạo
Phật, mới bảy ngày đã thông hiểu các Pháp, nên gọi là Trí tuệ đệ nhất.
3. Diệt tận định :
(Nirodbasamapatti) cũng gọi Diệt thọ tưởng định : nghĩa là diệt hết 6 thức tâm
vuơng và tâm sở không còn khởi hiện hạnh. Hàng nhị thừa từ quả thứ ba sắp lên,
tạm tưởng nhập Niết bàn thời nhập định này, thuộc về thánh quả chớ chẳng phải
như vô tâm định của ngoại đạo.
4. Niết Bàn : (Nirvana)
cũng gọi là Nê hoàn. Tàu dịch Diệt độ : Nghĩa là dứt hết phiền não nghiệp
chướng vượt khỏi vòng sanh tử. Lại dịch là Viên tịch : Ðức đầy đủ khắp trần sa
là “Viên”, bặt dứt nghiệp chướng khổ lụy, gọi là “Tịch”. Cũng chỉ cho bản tánh
tịch tịnh, rời tất cả pháp sanh diệt khổ lụy.
6. Mục Kiền Liên : (Mua
Dgalyayana) : Tàu dịch : họ Thái Thúc. Ban sơ ông tu theo ngoại đạo đã lâu mà
không công hiệu gì, sau nhờ ông Xá Lợi Phất thuật lại bài kệ Nhân duyên cho ông
nghe, liền tỏ ngộ : theo Phật tu hành chứng quả Thanh Văn, đặng phép Thần thông
bậc nhất.
6. Chúng sanh cấu : Các
tâm chấp ngã, chấp có chúng sanh. Trên bản thể chơn pháp không có chúng sanh,
nếu chấp có chúng sanh thành nhơ chơn pháp, nếu ngộ được chơn pháp không có
chúng sanh, thời cái nhơ chấp trước kia không còn nữa.
7. Giác quán : Cũng gọi
là Tầm Từ : Suy nghĩ bằng cách tâm niệm vội vàng thô động gọi là giác. Suy nghĩ
chín chắn bằng tâm nhỏ nhiệm gọi là quán. Hai món này làm chướng ngại rối loạn
cho tâm định, lại làm nguyên nhân phát khởi ra lời nói năng. Nếu lìa Giác Quán
thì không còn lời nói năng.
8. Ngã sở : Ngã : Ta, là
lối ngoại đạo, phàm phu chấp chính thân ta có một chủ tể hằng còn, hay ngoài
thân có đấng chủ tể thường còn cùng khắp, thọ dụng tất cả và hay sanh vạn vật.
Ngã sỡ : vật sở hữu, phụ thuộc của Ngã (ta), ngã là chủ của vạn vật, vạn vật là
sở hữu của ngã. Ðây là do tính chấp có ngã mới có ngã sở.
9. Thực tế : Cùng cực
thật lý của bản thể vũ trụ, Pháp tánh chơn như.
10. Sáu trần : Sắc,
thinh, hương, vị, xúc, pháp.
11. Không, Vô tướng. Vô
tác : Gọi là tam không. Ba môn này đều nói về Lý Không, cũng gọi là Tam tam
muội.
1) Không tam muội : Quán các pháp từ nhơn duyên sanh, không có ngã và ngã
sở.
2) Vô tướng tam muội : Xa lìa những tướng Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc và tướng
Nam, tướng Nữ.
3) Vô tác tam muội : Ðối với các pháp xả hết tâm mong muốn, không còn sự tạo
tác
12. Ðại Ca Diếp : Tàu
dịch là Ẩm Quang, nghĩa là hào quang chói sáng trùm hết các ánh sáng khác.
Nguyên kiếp trước ông chung đậu vàng với người ta và ra công thiếp tượng Phật,
nhờ công đức ấy, nên đời đời cảm đặng cái báo thân sắc vàng ánh chóí. Khi gặp
Ðức Phật ra đời giáo hóa, ông nguyện theo tu hành, sau lãnh thọ đặng chánh
pháp. Trong hàng Ðại đệ tử, ông là đức hạnh bực nhất, cũng là khổ hạnh bực nhứt
nữa.
13. Như trí chứng : Tức là khi Thật trí chứng chơn lý thành tựu đạo quả, toàn
thân nhẹ nhàng an vui mà không sanh đắm nhiễm ; ý nói thân chạm lánh các vật
tốt, xấu, êm ấm v.v... cũng không có cảm thọ mê đắm như trí chứng vậy.
14. Bát tà : 1. Tà kiến,
2. Tà tư duy, 3. Tà ngữ, 4. Tà nghiệp, 5. Tà mạng, 6. Tà phương tiện, 7. Tà
niệm: 8. Tà định. Trái với Bát chánh đạo thời gọi là Bát tà.
15. Bát giải thoát :
Cũng là bát bội xả. Nghĩa là tám pháp thiền định này có công năng xa lìa, trãi
bỏ tất cả phiền não được giải thoát những sự triền phược trong ba cõi.
1) Nội hữu sắc tướng ngoại quán sắc : Vì muốn diệt trừ lòng tham đắm, người tu
hành trước phải quán thân mình là vật nhơ nhớp, nhưng vì còn lòng tham đối với
thân người, nên cũng phải quán cái thân ngưòi khác cũng như thế.
2) Nội vô sắc tướng ngoại quán sắc : Mới diệt được sắc tướng trong thân nhưng
lòng tham dục đối với người ở cõi Dục khó đoạn hết, nên cũng còn quán tướng
người khác bất tịnh.
3) Tịnh bội xả thân tác chứng : Ðến đây không còn tham trước tướng bất tịnh ở
ngoài, chỉ ở trong cảnh định luyện tập tâm sắc quang minh trong suốt (Tịnh Bội
xả). Tâm đã sáng suốt thì vui càng tăng trưởng đầy khắp trong thân (thân bội
xả).
4) Hư không xứ bội xả : Người tu hành diệt được lòng tham muốn sắc thân bất
tịnh của mình và của người, được nhứt tâm duyên “Không” cùng với “Không” tương
ứng, tức nhập được định “Vô biên hư không xứ”.
5) Thức xứ bội xả : Do xả Hư không xứ định, nhứt tâm duyên thức. Lúc nhập định
này, tức quán định, nhàm chán không ưa đắm nữa.
6) Vô sở hữu xứ bội xả : Do xả thức xứ, nhứt tâm duyên Vô sở hữu xứ. Lúc nhập
định này, tức quán định y nơi năm uẩn đều không thật nên không còn ái trước
nữa.
7) Phi hữu tưởng, Phi vô tưởng xứ bội xả : Do xả vô sở hữu xứ định, nhứt tâm
duyên phi hữu tưởng, phi vô tưởng. Lúc nhập định này, y nơi năm uẩn đều không
thật, nên tâm sanh nhàm chán.
8) Diệt thọ tưởng bội xả : Vì nhàm chán cái tâm tán loạn nên nhập định cho diệt
hẳn tâm ấy đi. Khi đắc định cả rồi thì thành ra tám đạo giải thoát nên gọi là
Bát giải.
16. Ðịnh ý : Tức tịnh
tâm. Tu thiền định xa lìa ý tán loạn.
17. Thanh Văn : Hàng đệ
tử Tiểu thừa y theo chánh giáo của Phật dạy, tu tập pháp Tứ đế, đoạn Kiến hoặc
và Tư hoặc, chứng chánh quả. Có 4 bực:
1) Tu đà hoàn (Dự lưu quả), 2. Từ đà hàm (Nhứt lai quả), 3. A na hàm (Bất lai
quả), 4. A la hán (Vô sanh quả).
18. Bích Chi Phật :
Thuộc về trung thừa có 2 hạng :
1) Ðộc Giác : ra đời không gặp đặng Phật và giáo pháp, do căn lành sẵn có, ngó
thấy cảnh tang thương, hoa tàn, lá úa v.v... ngộ lý vô thường, phát tâm xuất ly
dục trần, tự tu tập pháp vô thường quán, chứng quả vô sanh khỏi vòng sanh tử
trong tam giới ;
2) Duyên Giác : Ra đời gặp Phật và giáo pháp, tu tập theo phép quán 12 nhơn
duyên chứng quả vô sanh (Ðồng bực A La Hán của Thanh Văn).
19. Tu Bồ Ðề : (Shabuti)
Tàu dịch là Không Sanh. Bực Ðại A La Hán tỏ ngộ lý chơn không, bực nhứt trong
hàng Thanh Văn.
20. Ngũ nghịch : 1) Giết
cha ; 2) Giết mẹ ; 3) Giết A La Hán ; 4)Phá hòa hợp của chúng Tăng ; 5) Làm cho
thân Phật chảy máu.
21. Tứ Ðế :
1) Khổ đế : tất cả cảnh khổ trong ba cõi như sanh, già, bịnh, chết v.v...
2) Tập đế : Nguyên nhân tất cả cảnh khổ, tức phiền não tham, sân, si v.v. chứa
nhóm kết thành.
3) Diệt đế : Tịch diệt Niết bàn ; dứt hết phiền não nguyên nhân thống khổ, khỏi
hẳn sanh tử an vui vắng lặng.
4) Ðạo đế : Các Thánh đạo, những phương pháp tu hành để đoạn phiền não, chứng
Thánh quả.
22. Lục sư ngoại đạo :
Sáu ông Thầy chủ trương học thuyết ngoại đạo :
1) Phú Lan Na, chủ trương thuyết đoạn diệt ;
2) Mạt Già Lê, chủ trương thuyết tự nhiên sinh ;
3) San Xà Gia, chủ trương thuyết không tu hành ;
4) A Kỳ Ða, chủ trương khổ hạnh ;
5) Ca Na, chủ trương thuyết ngụy blện ;
6) Ni Càn Ðà, chủ trương thuyết định mạng, tức Ấn Ðộ giáo bây giờ.
23. Vô tránh tam muội :
Là môn chánh định cao siêu hơn hết trong các môn chánh định của hàng Thanh Văn.
Môn định này do vì liễu ngộ lý không, nên bỉ, ngã đều quên, không làm tổn não
chúng sanh, lại hay khiến chúng sanh không khởi phiền não.
24. Ba đường ác : Ðia
ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh.
25. Phú Lâu Na Di Ða La
Ni Tử : (Purnamaitrayaniputra) Tàu dịch là Mãn Từ Tử, nghĩa là con của ông Mãn
(cha) bà Tữ (mẹ). ông có tài thuyết pháp bực nhứt trong hàng Thanh Văn.
26. Ma Ha Ca Chiên Diên
: (Maha Katyayana) Tàu dịch Văn Sức, nghĩa là nói năng diu dàng, biện luận rành
rẽ. Ông là người có biện tài bực nhứt trong hàng Tỳ kheo.
27. Vô thường : Tất cả
pháp trong đời sanh diệt dời đổi phút chốc không dừng gọi là Vô thường. Trong
Trí Ðộ Luận về quyển 23 nói : “Tất cả pháp hữu vi đều vô thường vì chập chập
sanh diệt, vì thuộc nhơn duyên vậy”.
28. Khổ : Những việc bức
não thân tâm gọi là khổ, như sanh, già, bịnh, chết v.v...
29. Không : Các pháp do
nhân duyên sanh ra, tìm xét cùng tột không có thật thể, nên gọi là không.
30. Vô ngã : Thân thể
chỉ do ngũ uẩn giả hợp không có chủ tể thường nhứt. Các pháp đều do nhân duyên
sanh cũng không có ngã thể thường nhứt. Trong kinh Kim Cang nói : người thông
suốt được pháp vô ngã, Như Lai gọi là Chơn Bồ Tát.
31. Tịch diệt : Tiếng
Phạn gọi là Niết Bàn. Lý thể tịch tịnh lìa tất cả tướng gọi là Tịch Diệt.
32. Thật tướng : Tướng
chân thật không giả dối, tức là chỉ cho bản thể vạn hữu trong vũ trụ. Bản thể
ấy có khi gọi là Pháp tánh, Chơn như hay Thật tướng. Danh từ tuy khác mà thể là
một.
33. A Na Luật :
(Aniruddha) cũng gọi A Nậu Lầu Ðà. Tàu dịch là Như ý. Nghĩa là kiếp trước ông
có cúng dường một vị Phật Bích Chi, nên đời đời cảm đặng quả báo phú túc, chỗ
cầu đều mãn nguyện. Khi ông mới nhập đạo, tánh hay ưa ngủ, bị Phật quở trách
ông tự hổ, tinh tấn tu tập thức luôn bảy ngày đêm đến nỗì hai mắt không thấy
đường, nhờ Phật dạy tu pháp “Kim cang tam muội” nên sau ông đặng Thiên nhãn bực
nhứt.
34. A Ma Lặc : Thứ trái
cây hình giống trái Binh Lang (trái cau) ăn nó trừ được bịnh phong lãnh.
35. Ngũ thông : 1. Thiên
nhãn thông, 2. Thiên nhĩ thông, 3. Tha tâm thông, 4. Túc mạng thông, 5. Thần
túc thông.
36. Chơn thiên nhãn : Là
mắt của Phật, Phật hằng ở trong định, vạn tượng đều hiện trước mắt, chưa từng
không thấy, mà chưa từng có thấy, nên nói không có hai tướng.
37. Ưu Ba Ly : (Upali)
Tàu dịch là Cận Chấp, nghĩa là nói lúc Phật làm Thái tử, ngài Ưu Ba Ly làm quan
đại thần: thân cận giúp cho Thái tử, sau theo Phật xuất gia, chứng quả A La
Hán, ngài là bực giữ luật thứ nhứt.
38. Nhạo thuyết biện tài
: Bồ Tát do nội trí phát sáng hay tùy thuận căn tánh chúng sanh ưa nghe pháp mà
diễn nói một cách viên dung vô ngại.
39. La Hầu La : (Rahula)
Tàu dịch là Phú Chướng, nghĩa là bị ngăn chướng ở trong thai mẹ 6 năm mới sanh
ra, ông là con của Phật Thích Ca. Khi bà Da Du Ðà La sanh ông ra, nhằm lúc thần
A tu la lấy tay che khuất mặt trời, vì thế nên dặt tên ông là La Hầu La. Trong
kinh Nhân Duyên nói : Trong 10 người đệ tử lớn của Phật, ông La Hầu La là mật
hạnh bực nhứt. Ðến hội Pháp Hoa, ông được thọ ký sau sẽ thành Phật hiệu là “Ðạo
thất Bảo Hoa Như Lai”.
40. Chuyển Luân Vương :
có bốn : 1. Thiết Luân Vương cai trị một châu thiên hạ; 2. Ðồng Luân Vương cai
trị 2 châu thiên hạ; 3. Ngân Luân Vương cai trị 3 châu thiên hạ; 4. Kim Luân
Vương (cai trị 4 châu thiên hạ). Vì phước nghiệp đời trước, nên khi làm vua, có
xe báu tự nhiên, hoặc bằng sắt, đồng, bạc, vàng hiện ra, vua ngồi xe đó đi tuần
hay dẹp giặc trong cõi mình cai trị nên gọi là Chuyển Luân Thánh Vương.
41. Hữu vi : Các pháp có
tạo tác sanh diệt, tức là chỉ tất cả hiện tượng biến thiên trong vũ trụ.
42. Vô vi : Vi là thi vi
tạo tác, vô vi là cái không có thi vi tạo tác lại không bị bốn tướng Sanh, Trụ,
Dị, Diệt cai quản, tức là bản thể chơn lý.
43. Sáu mươi hai món kiến chấp : Ðối với pháp ngũ ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức)
mỗi ấm phái ngoại đạo khởi 4 món kiến chấp sai lầm : 1) Chấp sắc lớn ngã nhỏ,
ngã ở trong sắc ; 2) Chấp ngã lớn sắc nhỏ, sắc ở trong ngã ; 3) Ngoài sắc chấp
ngã riêng ; 4) Ngã tức là Sắc. Sắc ấm như thế thì các ấm kia cũng thế, cộng
thành 20 kiến, trải ba đời nhơn thành 60 kiến, thêm hai phần căn bản là Ðoạn
kiến và Thường kiến, thành 62 món tà kiến. Vì rừng kiến chấp sai lầm ấy, nên
người đời không chừa một tội lỗi nào mà không làm.
44. Ngu đạo : Năm đường
: Trờí, người, ngạ quỉ, súc sanh, địa ngục.
45. Ngũ nhãn :
1) Nhục nhãn : Mắt thịt thấy gần không thấy xa, thấy ngoài không thấv trong, vì
bị sắc chất ngăn ngại ;
2) Thiên nhãn : Mất của chư Thiên nhơn tu thiền định mà thành. Mắt này có thể
thấy tất cả xa gần, trước sau, trên dưới, ngày đêm, vì không có sắc chất làm
ngăn ngại ;
3) Huệ nhãn : mắt của hàng nhị thừa (Thanh Văn, Duyên Giác) quán thấy tất cả
đều không ;
4) Pháp nhãn : mắt của Bố Tát. Bồ Tát vì độ sanh dùng Pháp nhãn thanh tịnh quán
khắp tất cả các pháp và tất cả chúng sanh đem những món phương tiện dạy dỗ
khiến họ tu chứng ;
5) Phật nhãn : Mắt của Phật, do trí tuệ viên mãn cứu cánh của Phật có đủ bốn
con mắt trước nhưng có phán đặc biệt hơn, như : Người thấy rất xa, Phật lại
thấy rất gần, người thấy tối tăm, Phật lại thấy sáng, cho đến không việc gì mà
Ngài không thấy, không biết, không nghe, không cần để ý mà đều thấy nghe tất
cả.
46. Ngũ căn : 1. Tín căn
; 2.Tấn căn ; 3. Niệm căn ; 4. Ðịnh căn ; 5. Huệ căn đã giải nơi 2 phẩm trong
phần 37 phẩm trợ đạo số 26).
47. Ngũ lực : Tức tu năm
căn trên được tăng trưởng có thế lực phá trừ 5 chướng :
1) Tín lực : tín căn tăng trưởng, phá các lòng tin sai lầm mù quáng;
2) Tấn lực : tinh tấn căn tăng trưởng phá được tính lười biếng của thân tâm; 3)
Niệm lực : niệm căn tăng trưởng phá được các niệm sai lầm tà vạy ;
4) Ðịnh lực : định căn tăng trưởng phá được các tư tưởng loạn dộng ;
5) Huệ lực : huệ căn tăng trưởng phá được các sự mê lầm trong 3 cõi.
48. Tạp ác : Các việc
không lành của tâm tạp nhiễm gây tạo. Hai chữ tạp ác đây, ý nói, dù làm mọi
việc phước thiện mà tâm tạp nhiễm tán loạn cũng gọi là tạp ác. Chỉ dứt trừ vọng
tưởng đến đạo lý cứu cánh Niết Bàn mới gọi là lìa các tạp ác.
49. Vô thượng Bồ đề :
Tức trí giác tuyệt đối, cũng như chữ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, có giải ở
trước.
50. A Nan : Nói đủ A Nan
Ðà (Anada). Tàu dịch là Khánh Hỷ, ông là con chú bác với Phật Thích Ca, học
rộng. nhớ nhiều là bực đa văn thứ nhứt trong hàng Thanh Văn đệ tử.
51. Kim cang : Một chất
rất cứng chắc không chi phá vỡ nó được, mà nó lại hay phá vỡ các thứ cứng
52. Pháp thân : Có 3 thứ
:
1) Pháp Hóa sanh thân, tức là thân Kim cang;
2) Ngũ phần pháp thân (đã giải nơi phẩm 2) ;
3) Thật tướng của các pháp,
đồng hợp thành thân Phật.
53. Tư dục thân : Thân
hình do tư tưởng ái dục đợi duyên hòa hiệp sanh ở trong 3 cõi.
54. Vô lậu : Không còn
rơi lọt, tức từ các bực Thánh trong hàng Thanh Văn. Bồ Tát tu hành đã dứt hết
phiền não, tự tâm thanh tịnh giải thoát, không còn nghiệp chướng rơi lọt vào
trong ba cõi sanh tử nữa nên gọi là vô lậu.
55. Năm món trược
:
1) Kiếp trược : thời gian biến đổi không ngừng có đủ 4 món trược dưới đây
:
2) Kiến trược : sự thấy biết sai lầm, tin nhận tà vạy, chính là những món “Lợi
sử” vậy.
3) Phiền não trược : tham sân lững lẫy, si mê điên đảo v.v... chính là những
món “Ðộn sử’ vậy.
4) Chúng sanh trược : sanh tử, tử sanh nối luôn không dứt.
5) Mạng trược : thọ mạng ngắn ngủi.
56. Bổn duyên : Do lai
duyên sự của mình.
|
|
KINH DUY-MA-CẬT
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
* * * * *
IV. PHẨM BỒ TÁT (1)
... BỒ TÁT DI LẶC (2)
Lúc bấy giờ Phật bảo
Bồ Tát Di Lặc :
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Di Lặc bạch Phật
:
– Bạch Thế Tôn ! Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao ? - Nhớ lại
lúc trước con nói hạnh “bất thối chuyển” (3), cho vị Thiên Vương ở cõi trời
Ðâu Suất và quyến thuộc của người, lúc ấy ông Duy Ma Cật đến nói với con
rằng : “Ngài Di Lặc ! Thế Tôn thọ ký (4) cho Ngài một đời sẽ được quả Vô
Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, đó là đời nào mà Ngài được thọ ký ? Ðời quá
khứ chăng ? Ðời vị lai chăng ? Ðời hiện tại chăng ? Nếu là đời quá khứ thời
quá khứ đã qua. Nếu là đời vị lai thời vị lai chưa đến. Nếu là đời hiện tại
thời hiện tại không dừng (trụ) . Như lời Phật nói : “Này Tỳ Kheo! Như ông
ngay bây giờ cũng sanh, cũng già, cũng chết !”. Nếu dùng vô sanh (5) mà
được thọ ký, thì vô sanh tức là chánh vị (6), ở trong chánh vị cũng không
thọ ký, cũng không được quả Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Thế nào Di Lặc
được thọ ký một đời ư ? Là từ “Như” sanh mà được thọ ký, hay là từ “Như”
diệt mà được thọ ký ? Nếu từ Như sanh mà được thọ ký, mà Như không có sanh.
Nếu từ Như diệt được thọ ký, mà Như không có diệt. Tất cả chúng sanh đều
Như, tất cả Pháp cũng Như, các Thánh Hiền cũng Như, cho đến Di Lặc cũng
Như. Nếu Di Lặc được thọ ký, tất cả chúng sanh cũng phải được thọ ký - Vì
sao ? Vì Như không hai không khác. Nếu Di Lặc được quả Vô Thượng Chánh Ðẳng
Chánh Giác, tất cả chúng sanh cũng đều được. Vì sao ? - Tất cả chúng sanh
chính là tướng Bồ Ðề(7). Nếu Di Lặc được diệt độ, tất cả chúng sanh cũng
phải diệt độ. Vì sao ? - Chư Phật biết tất cả chúng sanh rốt ráo vắng lặng,
chính là tướng Niết bàn, chẳng còn diệt nữa. Cho nên Di Lặc, chớ dùng Pháp
đó dạy bảo các Thiên tử, thật không có chi phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng
Chánh Giác, cũng không có chi thối lui. Ngài Di Lặc ! Phải làm cho các vị
Thiên tử này bỏ chỗ kiến chấp phân biệt Bồ Ðề. Vì sao ? Bồ Ðề không thể
dùng thân được, không thể dùng tâm được. Tịch diệt là Bồ Ðề, vì diệt các
tướng; chẳng nhận xét là Bồ Ðề, vì ly các duyên ; chẳng hiện hạnh là Bồ Ðề,
vì không ghi nhớ; đoạn là Bồ Ðề, bỏ các kiến chấp ; ly là Bồ Ðề, lìa các
vọng tưởng ; chướng là Bồ Ðề, ngăn các nguyện (8) ; bất nhập là Bồ Ðề,
không tham đắm ; thuận là Bồ Ðề, thuận chơn như ; trụ là Bồ Ðề, trụ pháp
tánh ; đến là Bồ Ðề, đến thật tế ; bất nhị (9) là Bồ Ðề, ly ý pháp; bình
đẳng là Bồ Ðề, đồng hư không ; vô vi là Bồ Ðề, không sanh, trụ, diệt ; tri
là Bồ Ðề, rõ tâm hạnh chúng sanh ; không hội là Bồ Ðề, các nhập không
nhóm(10) ; không hiệp là Bồ Ðề, rời tập khí phiền não; không xứ sở là Bồ
Ðề, không hình sắc ; giả danh là Bồ Ðề, danh tự vốn không; như huyễn hóa là
Bồ Đề, không thủ xả ; không loạn là Bồ Ðề, thường tự vắng lặng ; thiện tịch
là Bồ Ðề, tánh thanh tịnh ; không thủ là Bồ Ðề, rời phan duyên; không khác
là Bồ Ðề, các Pháp đồng đẳng ; không sanh là Bồ Ðề, không thể ví dụ ; vi
diệu là Bồ Ðề, các Pháp khó biết.
– Bạch Thế Tôn ? Khi
ông Duy Ma Cật nói Pháp ấy, hai trăm vị Thiên tử chứng được Vô Sanh Pháp
Nhẫn. Vì thế, nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.
ÐỒNG TỬ QUẢNG NGHIÊM
(11–12)
Phật bảo Ðồng tử
Quang Nghiêm :
– Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Quang Nghiêm bạch
Phật :
- Bạch Thế Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao ? - Nhớ lại
ngày trước con ở trong thành lớn Tỳ Da Ly vừa ra, lúc đó ông Duy Ma Cật mới
vào thành, con liền chào và hỏi rằng : “Cư sĩ, từ đâu đến đây ?”.
Ông đáp : “Tôi từ
Ðạo tràng (13) đến”.
Con hỏi : “Ðạo tràng
là gì ?”.
Ông đáp Trực tâm là
Ðạo tràng, vì không hư dối ; phát hạnh là đạo tràng, làm xong các việc ;
thâm tâm là đạo tràng, thêm nhiều công đức ; Bồ Ðề tâm là đạo tràng, vì
không sai lầm; bố thí là đạo tràng, không mong phước báu; trì giới là đạo
tràng, được nguyện đầy đủ ; nhẫn nhục là đạo tràng, đối chúng sanh tâm
không chướng ngại ; tinh tấn là đạo tràng, không biếng trễ ; thiền định là
đạo tràng, tâm điều nhu (14) ; trí tuệ là đạo tràng, thấy rõ các Pháp ; từ
là đạo tràng, đồng với chúng sanh ; bi là đạo tràng, nhẫn chịu sự khổ nhọc
; hỉ là đạo tràng, ưa vui Chánh Pháp ; xả là đạo tràng, trừ lòng thương
ghét; thần thông là đạo tràng, thành tựu Pháp lục thông; giải thoát là đạo
tràng, hay trái bỏ; phuơng tiện là đạo tràng, giáo hóa chúng sanh; tứ nhiếp
là đạo tràng, nhiếp độ chúng sanh ; đa văn(15) là đạo tràng, đúng theo chỗ
nghe mà thật hành ; phục tâm là đạo tràng, chánh quán (16) các Pháp ; ba
mươi bảy phẩm trợ đạo là đạo tràng, bỏ Pháp hữu vi; tứ đế là đạo tràng,
chẳng dối lầm thế gian; duyên khởi là đạo tràng, từ vô minh cho đến lão, tử
đều không hết ; các phiền não là đạo tràng, biết là vô ngã; tất cả Pháp là
đạo tràng, biết các Pháp trống không; hàng ma là đạo tràng, không lay động;
tam giới là đạo tràng, không chỗ đến ; sư tử rống là đạo tràng, không sợ
sệt; thập lực, vô úy, bất cộng pháp là đạo tràng, không các lỗi ; tam minh
là đạo tràng, không còn ngại ; một niệm biết tất cả Pháp là đạo tràng,
thành tựu nhứt thiết chủng trí (17). Như vậy Thiện nam tử ! Nếu Bồ Tát đúng
theo các Pháp ba la mật mà giáo hóa chúng sanh, thời bao nhiêu việc làm,
hoặc nhứt cử nhứt động, phải biết đều là từ nơi đạo tràng mà ra, ở nơi Phật
Pháp vậy”.
Khi ông Duy Ma Cật
nói Pháp ấy, năm trăm vị Thiên nhơn đều phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh
Giác. Vì thế, nên con không kham lãnh đến thăm bịnh ông.
BỒ TÁT TRÌ THẾ (18)
Phật bảo Bồ Tát Trì
Thế :
- Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Bồ Tát Trì Thế bạch
Phật :
- Bạch Thế Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao ? - Nhớ lại
lúc trước, con ở nơi tịnh thất, bấy giờ ma Ba Tuần (19) đem một muôn hai
nghìn Thiên nữ giống như trời Ðế Thích, trổi nhạc đờn ca đi đến chỗ con ở,
Ma cùng với quyến thuộc cúi đầu làm lễ dưới chân con, chấp tay cung kính
đứng sang một bên. Trong ý con cho là trời Ðế Thích nên bảo rằng : “Lành
thay, mới đến Kiều Thi Ca (20) ? Dù là có phước chớ nên buông lung. Ông nên
quán ngũ dục là vô thường để cầu cội lành, ở nơi thân mạng, tài sản mà tu
pháp bền chắc (21)”.
Ma vương nói với
con: “Thưa Chánh sĩ (22) ! Xin Ngài nhận một muôn hai nghìn Thiên nữ này để
dùng hầu hạ quét tước”. Con nói rằng : “Này Kiều Thi Ca ! Ông đừng cho vật
phi pháp này, tôi là kẻ Sa môn Thích tử, việc ấy không phải việc của tôi”.
Nói chưa dứt lời, bỗng ông Duy Ma Cạt đến nói với con : “Ðây chẳng phải là
Ðế Thich, mà là Ma đến khuấy nhiễu ông đấy !...” Ông lại bảo Ma rằng
: “Các vị Thiên nữ này nên đem cho ta, như ta đây mới nên thọ”. Ma sợ hãi
nghĩ rằng : “Có lẽ ông Duy Ma Cật đến khuấy rối ta chăng ?”. Ma muốn
ẩn hình mà không thể ẩn, rán hết thần lực, cũng không đi được. Liền nghe
giữa hư không có tiếng rằng : “Này Ba Tuần! Hãy đem Thiên nữ cho ông Duy Ma
Cật thì mới đi được”. Ma vì sợ hãi, nên miễn cưỡng cho.
Khi ấy ông Duy Ma
Cật bảo các Thiên nữ rằng:
- Ma đã đem các ngươi cho ta rồi, nay các ngươi đều phải phát tâm Vô Thượng
Chánh Ðẳng Chánh Giác. Rồi ông theo căn cơ của Thiên nữ mà nói pháp để cho
phát ý đạo, và bảo rằng “Các ngươi đã phát ý đạo, có Pháp vui để tự vui chớ
nên vui theo ngũ dục (23) nữa”.
Thiên nữ hỏi : “Thế
nào là Pháp vui ?”.
Ðáp : “Vui thuờng
tin Phật; vui muốn nghe pháp; vui cúng dường tăng; vui lìa ngũ dục; vui
quán ngũ ấm như oán tặc; vui quán thân tứ đại như rắn độc; vui quán nội
nhập (sáu căn) như không; vui giữ gìn đạo ý; vui lợi ích chúng sanh; vui
cung kính cúng dường bực sư trưởng; vui nhẫn nhục nhu hòa; vui siêng nhóm
căn lành, vui thiền định chẳng loạn; vui rời cấu nhiễm đặng trí tuệ sáng
suốt; vui mở rộng tâm Bồ Ðề; vui hàng phục các Ma; vui đoạn phiền não; vui
thanh tịnh cõi nuớc Phật; vui thành tựu các tướng tốt mà tu các công đức;
vui trang nghiêm đạo tràng; vui nghe pháp thâm diệu mà không sợ; vui ba môn
giải thoát mà không vui phi thời (24); vui gần bạn đồng học; vui ở chung
với người không phải đồng học mà lòng không chướng ngại, vui giúp đỡ ác tri
thức; vui gần thiện tri thức; vui tâm hoan hỷ thanh tịnh; vui tu vô lượng
Pháp đạo phẩm. Ðó là Pháp vui của Bồ Tát”.
Khi ấy ma Ba Tuần
bảo các Thiên nữ rằng : “Ta muốn cũng các ngươi đồng trở về Thiên
cung”.
Các Thiên nữ đáp :
“Ông đã đem chúng tôi cho cư sĩ, chúng tôi có pháp vui, chúng tôi vui lắm,
không còn muốn vui theo ngũ dục nữa”.
Ma liền thưa với ông
Duy Ma Cật rằng : “Xin Ngài nên xả các Thiên nữ này; người đem tất cả vật
của mình để bố thí cho kẻ khác, đó mới là Bồ Tát”.
Ông Duy Ma Cật nói : “Ta đã xả rồi, ngươi hãy đem đi để cho tất cả các
người được pháp nguyện đầy đủ”.
Lúc ấy các Thiên nữ
hỏi ông Duy Ma Cật rằng:
- Chúng tôi làm thế nào ở nơi cung ma?
Ông Duy Ma Cật đáp :
“Này các chị, có Pháp môn tên là “Vô tận đăng”, các chị nên học. Vô tận
đăng là ví như một ngọn đèn mồi đốt trăm ngàn ngọn đèn, chỗ tối đều sáng,
sáng mãi không cùng tận. Như thế đó các chị ? Vả lại một vị Bồ Tát mở mang
dẫn dắt trăm nghìn chúng sanh phát tâm Bồ Ðề, đạo tâm của mình cũng chẳng
bị tiêu mất, tùy nói Pháp gì đều thêm lợi ích cho các Pháp lành, đó gọi là
“Vô tận đăng”. Các chị dầu ở cung ma mà dùng Pháp môn “Vô Tận Ðăng” này làm
cho vô số Thiên nữ phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng, Chánh Giác, đó là báo ơn
Phật, cũng là làm lợi ích cho tất cả chúng sanh”.
Bấy giờ các Thiên nữ
cúi đầu đảnh lễ dưới chân ông Duy Ma Cật rồi theo ma Ba Tuần trở về Thiên
cung, bỗng nhiên biến mất không còn thấy nữa.
- Bạch Thế Tôn ! Ông
Duy Ma Cật có thần lực tự tại và trí tuệ biện tài như thế, nên con không
kham lãnh đến thăm bịnh ông.
TRƯỞNG GIẢ TỬ THIỆN
ĐỨC
Phật bảo Trưởng giả
tử Thiện Ðức :
- Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Thiện Ðức bạch Phật
:
- Bạch Thế Tôn ? Con không kham lãnh đến thăm bịnh ông. Vì sao? Nhớ lại
thuở trước, con lập ra hội đại thí ở nhà cha con, hạn trong bảy ngày để
cúng dường cho tất cả vị Sa môn, Bà la môn, cùng hàng ngoại đạo, kẻ nghèo
khó, hèn hạ, cô độc và kẻ ăn xin. Bấy giờ ông Duy Ma Cật đến trong hội nói
với con rằng : “Này Trưởng giả tử ! Vả chăng hội đại thí không phải như hội
của ông lập ra đâu, phải làm hội Pháp thí(26) chớ lập ra hội đại thí này
làm gì ?.
Con nói: “Thưa Cư sĩ
! Sao gọi là hội Pháp thí”.
Ông đáp : “Hội Pháp
thí là đồng thời cúng dường tất cả chúng sanh, không trước không sau đó là
hội Pháp thí”.
Con hỏi : “Thế là
nghĩa gì ?”.
Cư sĩ đáp : “Nghĩa
là vì đạo Bồ Ðề, khởi từ tâm; vì cứu chúng sanh, khởi tâm đại bi ; vì muốn
giữ gìn chánh pháp, khởi tâm hoan hỉ ; vì nhiếp trí tuệ, làm theo tâm xả ;
vì nhiếp tâm tham lẫn, khởi bố thi ba la mật, vì độ kẻ phạm giới khởi trì
giới ba la mật, vì không ngã (27) pháp (28), khởi nhẫn nhục ba la mật ; vì
rời tướng thân tâm, khởi tinh tấn ba la mật; vì tướng Bồ Ðề, khởi thiền
định ba la mật; vì nhứt thiết trí, khởi trí tuệ ba la mật; vì giáo hóa
chúng sanh mà khởi ra “Không” ; chẳng bỏ Pháp hữu vi mà khởi “Vô tướng”;
thị hiện thọ sanh mà khởi “vô tác”; hộ trì Chánh Pháp, khởi sức phương
tiện; vì độ chúng sanh, khởi pháp tứ nhiếp; vì kính thờ tất cả, khởi pháp
trừ khinh mạn; đối thân, mạng và tài sản, khởi ba pháp bền chắc; trong pháp
lục niệm(29) khởi ra pháp nhớ tưởng; ở sáu pháp hòa kính (30) , khởi tâm
chất trực; chơn chánh thật hành thiện pháp, khởi sự sống trong sạch; vì tâm
thanh tịnh hoan hỷ, khởi gần bậc Thánh hiền ; vì chẳng ghét người dữ, khởi
tâm điều phục; vì pháp xuất gia, khởi thâm tâm; vì đúng theo chỗ nói mà làm
khởi đa văn; vì Pháp vô tránh, khởi ở chỗ yên lặng; vì đi tới Phật huệ,
khởi ra ngồi yên lặng (tọa thiền); vì mở ràng buộc cho chúng sanh, khởi tâm
tu hành; vì đầy đủ tướng tốt và thanh tịnh cõi Phật, khởi sự nghiệp phước đức;
vì muốn biết tâm niệm tất cả chúng sanh đúng chỗ nên nói pháp, khởi ra
nghiệp trí; vì biết tất cả pháp không lấy không bỏ, vào môn nhứt tướng(31),
khởi ra nghiệp huệ; vì đoạn tất cả phiền não, tất cả chướng ngại, tất cả
bất thiện, khởi làm tất cả pháp trợ Phật đạo. Như vậy Thiện nam tử ? Ðó là
hội pháp thí. Nếu Bồ Tát trụ nơi hội pháp thí đó, là vị đại thí chủ, cũng
là phước điền cho tất cả thế gian”.
- Bạch Thế Tôn ? Khi
ông Duy Ma Cật nói pháp ấy, trong chúng Bà la môn hai trăm người đều phát
tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Lúc đó tâm con đặng
thanh tinh, ngợi khen chưa từng có, cúi đầu đảnh lễ dưới chơn ông Duy Ma
Cật. Con liền mở chuỗi Anh lạc giá đáng trăm nghìn lượng vàng dâng lên, ông
không chịu lấy. Con nói : “Thưa Cư sĩ ! Xin Ngài hãy nạp thọ, tùy ý Ngài
cho”. ông Duy Ma Cật liền lấy chuỗi Anh lạc chia làm hai phần, một phần đem
cho người ăn xin hèn hạ nhứt trong hội, còn một phần đem dâng cho đức Nan
Thắng Như Lai. Tất cả chúng trong hội đều thấy cõi nước Quang Minh và đức
Nan Thắng Như Laỉ, lại thấy chuỗi Anh lạc ở trên đức Phật kia biến thành
bốn trụ đài quí báu, bốn mặt đều trang nghiêm rực rỡ không ngăn che
nhau.
Khi ấy, ông Duy Ma
Cật hiện thần biến xong, lại nói rằng: “Nếu người thí chủ dùng tâm bình
đẳng thí cho một người ăn xin rất hèn hạ xem cũng như tướng phước điền của
Như Lai, không phân biệt, lòng đại bi bình đẳng, không cầu quả báo, đó gọi
là đầy đủ pháp thí vậy”.
Trong thành những
người ăn xin hèn hạ bực nhất thấy thần lực như vậy và nghe lời nói kia, đều
phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vì thế, nên con không kham lãnh
đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Như thế, các Bồ Tát
dều tuần tự đến trước Phật trình bày chỗ bổn duyên của mình, vị nào cũng
khen ngợi, thuật lại những lời ông Duy Ma Cật và đều nói “Không kham lãnh
đến thăm bịnh ông”.
Chú thích của phẩm
IV
1.Bồ tát: Nói đủ là
Bồ Ðề Tát Đỏa [Bodhisatra] Tàu dịch là Giác hữu tình, nghĩa là tự mình đã
giác ngộ, lại hay giác ngộ cho chúng sanh.
Bồ Tát có 3 bực :
A) Những người mới phát tâm tu hành cầu pháp Ðại thừa, tu hạnh Bồ Tát, là
Bồ Tát mới phát tâm.
B) Những người học đạo Ðại thừa đã lâu đời, chứng đặng bực Thập Trụ, Thập
Hạnh, Thập Hướng cho đến Thập Ðịa là bực Bồ Tát tu lâu.
C) Bồ Tát chứng bực Ðẳng giác (kề Phật gọi là Bổ xứ Bồ Tát).
2. Di Lặc : (Maitreya)
Tàu dịch là Từ Thị, là họ, tên là A Dật Đa. Ngài tu hạnh từ tâm không ai
sánh bằng, sau sẽ ra đời nối Đức Phật Thích Ca mà thuyết pháp độ sanh gọi
là Bổ xứ Bồ Tát.
3. Bất thối chuyển :
Theo Ðại thừa pháp tướng có 3 bực :
1) Vị bất thối : Từ khi phát tâm tin chắc lý Ðại thừa, trải muôn kiếp tu
nhơn vào bực Thập trụ rồi không còn thối đọa trong đường sanh tử nữa.
2) Hạnh bất thối : Ðã vào bực Sơ Ðịa, nơi hạnh lợi tha không còn lui
sụt.
3) Niệm bất thối : từ bực Bát địa nhẫn lên đặng Diệu trí vô công dụng, mỗi
niệm mỗi niệm thẳng vào biển quả chơn như, không còn một niệm nào thối
chuyển.
4. Thọ ký : Ðức Phật
đối với chúng sanh phát tâm Ðại thừa trao cho lời ký về sau ở nơi kiếp nào,
sẽ thành Phật hiệu là gì, cõi nước tên chi và trụ thế bao lâu, độ sanh bao
nhiêu.
5. Vô sanh : Chơn lý
Niết bàn không sanh không diệt.
6. Chánh vị : Tức
thật tướng thường trú Niết bàn của Tiểu thừa cũng gọi là chánh vị;
chính là quả vị để tu chứng.
7. Bồ đề tướng : Cái
tướng không tướng là tướng Bồ Đề
8. Chướng nguyện :
Chơn như đạo lý không có sự mong muốn nên ngăn tất cả sự nguyện cầu.
9. Bất nhị :Không
hai; Ý và Pháp là hai mà Bồ đề là vô tâm ý thì còn có pháp gì nữa, nên nói
là không hai.
10. Các nhập không
nhóm : 6 nhập trong và ngoài, tức 6 căn và 6 trần xung nhập nhau. Tự tánh
nó vốn không, nên nói là không nhóm.
11. Quang nghiêm :
Là dùng trí tuệ quang minh và phước đức quang minh trang nghiêm Pháp thân
thanh tịnh, gọi là Quang nghiêm.
12. Đồng tử : Chẳng
luận là tuổi trẻ mới gọi là Ðồng tử, mà những vị tu hành từ nhỏ tới già
trọn không phạm dâm dục, không mất hạnh thanh tịnh đều được gọi là Ðồng
tử.
13. Ðạo tràng : Là
chỗ của đức Phật thành đạo như : tòa Kim Cang; hoặc chỗ cúng dường đức
Phật, chỗ tu tập ngồi thiền, nơi chùa chiền cho đến những hạnh Pháp tu hành
đắc đạo như trực tâm, thâm tâm v.v... cũng gọi là Ðạo tràng.
14. Ðiều nhu : Ðối
trị phiến não làm cho mềm đi.
15. Ða văn : Rộng
nghe Phật pháp, y theo chỗ nghe mà thật hành gọi là Ða văn.
16. Chánh quán : Quán hiệp đúng như lời kinh Phật dạy là chánh quán, nếu
quán khác là tà quán.
17. Nhứt thiết chủng
trí : Trí của Phật biết rõ tất cả đúng như thật.
18. Trì Thế Bồ Tát :
Là vị Bồ Tát giữ gìn Phật pháp, đem giáo hóa chúng sanh trong đời.
19. Ba tuần : Tàu
dịch là : Ác giả, sát giả tên thứ Ác ma có ác ý, làm các việc ác, thường
muốn làm dứt mất huệ mạng của người tu hành.
20. Kiều Thi Ca : Là
họ của trời Ðế Thích, tên là Thích Ðề Hoàn Nhơn.
21. Tu pháp bền chắc
: Có 3 pháp bền chắc là ở nơi thân mạng và của cải đều quên bỏ, mà tu hành
theo chánh đạo, sẽ được cái thân bất hoại, mạng vô cùng, của vô tận, dù cho
trái đất cháy tan, kiếp số có cùng tận, mà 3 món ấy đều không tận, nên nói
là bền chắc.
22. Chánh sĩ : Tiếng
Phạn là Bồ Tát, dịch là Chánh Sĩ, nghĩa là bực cầu chánh đạo tu hạnh Ðại
thừa.
23. Ngũ dục : Năm
món làm khởi tâm ham muốn của người: 1) Sắc, 2) Thinh, 3) Hương, 4) Vị, 5)
Xúc. Lại có chỗ nói : 1) Của cải, 2) Sắc đẹp, 3) Uống ăn, 4) Danh dự, 5)Ngủ
nghỉ.
24. Vui ba môn giải
thoát, không vui phi thời : Ba môn 1)Không, 2)Vô tướng, 3)Vô tác. Ba thừa
đều noi theo tu tập gọi là môn, cởi mở sự ràng buộc gọi là giải thoát. Tu
hành chưa đến chỗ cùng tột, giữa chừng muốn thủ chứng như hàng Nhị thừa, đó
là Phi Thời. Hàng Bồ Tát không muốn như thế nên nói là không vui phi
thời.
25. Trưởng giả tử
Thiện Ðức : Là vị trưởng giả có căn lành đầy đủ, cội đức trồng sâu nên xưng
là Thiện Ðức.
26. Pháp thí : Thí
có 3 cách :
1) Tài thí : là dùng của cải bố thí cho người;
2) Tâm thí : dùng tâm từ, tâm bình đẳng ban sự vui cho người.
3) Pháp thí : nói pháp độ người làm những việc lợi ích chúng sanh hiện tại
và vị lai.
27. Ngã : Phần tác
động chủ tể.
28. Pháp : Phần thể
chất, hình tượng, nghĩa lý, vũ trụ.
29. Lục niệm :
1) Niệm Phật : tuởng niệm đấng thực hiện sự thực;
2) Niệm Pháp : tưởng niệm sự thực;
3) Niệm Tăng : tưởng niệm người thực hành sự thực;
4) Niệm Giới : tưởng niệm công đức giới pháp và sự giữ giới;
5) Niệm thí : tưởng niệm sự bố thí;
6) Niệm thiên: tưởng niệm sanh về cõi chư Thiên. Thiên có ba: 1) Tam giới
thiên : cõi Dục, Sắc và Vô Sắc; 2) Tịnh thiên : cảnh giới của Nhị thừa sanh
về. 3) Ðệ nhứt nghĩa thiên : cảnh giới của Bồ Tát sanh về.
30. Sáu pháp hòa
kính:
1) Thân hòa kính : Thân nghiệp đồng cung kính nhau.
2) Khẩu hòa kính: Khẩu nghiệp đồng ngợi khen khuyên nhủ nhau.
3) Ý hòa kính : Tâm ý đồng tín mến nhau.
4) Giới hòa kính : Ðồng giữ một giới pháp.
5) Kiến hòa kính : Chỗ hiểu biết đồng giải bày cho nhau.
6) Lợi hòa kính : Ðồng chia các món cúng dường.
31. Nhứt tướng : Thể
tánh chơn thật bình đẳng, không có tướng sai khác, nên gọi là Nhứt
tướng.
|
|
KINH DUY-MA-CẬT
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
* * * * *
V. PHẨM VĂN THÙ SƯ LỢI
(1) ... ( Thăm bịnh )
Lúc bấy giờ, Phật bảo
Văn Thù Sư Lợi :
- Ông đi đến thăm bịnh ông Duy Ma Cật.
Văn Thù Sư Lợi bạch Phật
:
- Bạch Thế Tôn ? Bực Thượng nhơn kia khó bề đối đáp, vì ông ấy rất thâm đạt
thật tướng, khéo nói pháp mầu, trí tuệ vô ngại, biện tài thông suốt, rõ thấu
phương pháp tu trì của tất cả Bồ Tát, thâm nhập kho tạng bí mật của Chư Phật,
hàng phục các ma, thần thông tự tại và trí tuệ phương tiện đều đặng rốt ráo.
Tuy thế, con xin vưng thánh chỉ của Phật đến thăm bịnh ông.
Lúc ấy, trong Ðại chúng
các hàng Bồ Tát và hàng Ðại đệ tử, Ðế Thích, Phạm thiên, Tứ thiên vương đều
nghĩ rằng : “Hôm nay hai vị dại sĩ : Văn Thù Sư Lợi và Duy Ma Cật cùng nhau đàm
luận tất nói pháp mầu”. Tức thời, tám nghìn Bồ Tát, năm trăm Thanh Văn và trăm
nghìn Thiên nhơn đều muốn đi theo.
Bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi
cùng các Bồ Tát, Ðại đệ tử và các hàng Thiên nhơn cung kính đoanh vây đi vào đại
thành Tỳ Da Ly.
Lúc ấy, Trưởng giả Duy
Ma Cật thầm nghĩ : “Nay đây Ngài Văn Thù Sư Lợi cùng đại chúng đồng đến viếng
thăm”. Ông liền dùng sức thần thông làm cho trong nhà trống rỗng, không có vật
chi và cũng không có người thị giả nào, chỉ để một chiếc giường cho ông nằm
bịnh.
Ngài Văn Thù Sư Lợi vào
nhà ông Duy Ma Cật rồi, thấy trong nhà trống rỗng không có vật chi, chỉ có một
mình ông nằm trên giường mà thôi. Khi ấy ông Duy Ma Cật chào rằng :
- Quí hóa thay ! Ngài Văn Thù Sư Lợi mới đến ! Tướng không đến mà đến, tướng
không thấy mà thấy.
Ngài Văn Thù Sư Lợi nói
:
- Phải đấy, Cư sĩ ! Nếu đã đến tức là không đến, nếu đã đi tức là không đi. Vì
sao ? - Ðến không từ đâu đến, đi không đến nơi đâu, hễ có thấy tức là không
thấy. Thôi việc ấy hãy để đó. - Cư sĩ bịnh có chịu nổi được không ? Ðiều trị có
bớt không ? Bịnh không đến nỗi tăng ư ? Thế Tôn ân cần hỏi thăm chi xiết. Bịnh
Cư sĩ nhơn đâu mà sanh, sanh đã bao lâu phải thế nào mới mạnh được ?. . .
Ông Duy Ma Cật đáp
:
- Từ nơi si mà có ái, bịnh tôi sanh. Vì tất cả chúng sanh bịnh, nên tôi bịnh.
Nếu tất cả chúng sanh không bịnh, thì bịnh tôi lành. Vì sao ? - Bồ Tát vì chúng
sanh mà vào đường sanh tử, hễ có sanh tử thời có bịnh, nếu chúng sanh khỏi bịnh
thì Bồ Tát không có bịnh. Ví như ông Trưởng giả chỉ có một người con, hễ người
con bịnh, thì cha mẹ cũng bịnh, nếu bịnh của con lành, cha mẹ cũng mạnh. Bồ Tát
cũng thế ? Ðối với tất cả chúng sanh, thương mến như con, nên chúng sanh bịnh,
Bồ Tát cũng bịnh, chúng sanh lành, Bồ Tát cũng lành - Ngài lại hỏi bịnh ấy nhơn
đâu mà sanh ? - Bồ Tát có bịnh là do lòng đại bi.
Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi
:
- Cư sĩ ? Nhà này vì sao trống không và không có thị giả ?
Ông Duy Ma Cật đáp
:
- Cõi nước của chư Phật cũng đều không.
- Lấy gì làm không ?
- Lấy không làm không.
- Ðã không, cần gì phải không ?
- Vì không phân biệt, nên không.
- Không, có thể phân biệt được ư ?
- Phân biệt cũng không.
- Không, phải tìm nơi đâu ?
- Phải tìm trong sáu mươi hai món kiến chấp (2).
- Sáu mươi hai món kiến chấp phải tìm nơi đâu ?
- Phải tìm trong các pháp giải thoát của chư Phật.
- Pháp giải thoát của chư Phật phải tìm nơi dâu ?
- Phải tìm nơi tâm hạnh của tất cả chúng sanh (3).
- Ngài lại hỏi vì sao không thị giả ?
- Tất cả chúng ma và các ngoại đạo đều là thị giả của tôi. Vì sao ? Vì các ma
ưa sanh tử, mà Bồ Tát ở nơi sanh tử không bỏ. Còn ngoại đạo ưa các kiến chấp,
mà Bồ Tát ở nơi các kiến chấp không động.
Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi
:
- Bịnh của Cư sĩ tướng trạng thế nào ?
Ông Duy Ma Cật đáp
:
- Bịnh của tôi không hình, không tướng, không thể thấy được.
- Bịnh ấy hiệp với thân hay hiệp với tâm ?
- Không phải hiệp với thân, vì thân tướng vốn lìa; cũng không phải hiệp với
tâm, vì tâm như huyễn.
- Ðịa đại, thủy đại, phong đại, hỏa đại, trong bốn đại bịnh về đại nào ?
- Bịnh ấy không phải địa đại, cũng không lìa địa đại ; thủy, hỏa, phong đại
cũng như thế. Nhưng bịnh của chúng sanh là từ nơi tứ đại mà khởi, vì chúng sanh
bịnh nên tôi có bịnh.
Khi ấy Ngài Văn Thù Sư
Lợi hỏi ông Duy Ma Cật :
- Phàm Bồ Tát an ủi Bồ Tát có bịnh như thế nào ?
Ông Duy Ma Cật đáp
:
- Nói thân vô thường, không nói nhàm chán thân. Nói thân có khổ, không nói ưa
thích Niết bàn. Nói thân vô ngã mà khuyên dạy dắt dìu chúng sanh. Nói thân
không tịch, không nói là rốt ráo tịch diệt. Nói ăn năn tội trước, không nói vào
nơi quá khứ (4). Lấy bịnh mình mà thương bịnh người. Phải biết cái khổ vô số
kiếp trước, phải nghĩ sự lợi ích cho tất cả chúng sanh, nhớ đến việc làm phước,
tưởng đến sự sống trong sạch, chớ nên sanh tâm buồn rầu, phải thường khởi lòng
tinh tấn, nguyện sẽ làm vị y vương điều trị tất cả bịnh chúng sanh. Bồ Tát phải
an ủi Bồ Tát có bịnh như thế để cho được hoan hỷ.
Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi
:
- Cư sĩ ! Bồ Tát có bịnh phải điều phục tâm mình như thế nào ?
Ông Duy Ma Cật đáp
:
- Bồ Tát có bịnh phải nghĩ thế này : ta nay bịnh đây đều từ các món phiền não,
điên đảo vọng tưởng đời trước sanh ra, là pháp không thật có, lấy ai chịu bịnh
đó. Vì sao ? Vì tứ đại hòa hợp giả gọi là thân, mà tứ đại không chủ, thân cũng
không ngã. Lại nữa, bịnh này khởi ra đều do chấp ngã (5), vì thế ở nơi ngã
không nên sanh lòng chấp đắm. Ðã biết gốc bịnh, trừ ngay ngã tưởng (6) và chúng
sanh tưởng (7), phải khởi pháp tưởng (8). Nên nghĩ rằng : “Thân này chỉ do các
pháp hiệp thành, khởi chỉ là pháp khởi, diệt chỉ là pháp diệt. Lại các pháp ấy
đều không biết nhau, khi khởi không nói nó khởi, khi diệt không nói nó diệt.”
Bồ Tát có bịnh muốn trừ diệt pháp tưởng phải nghĩ rằng : “Pháp tưởng này cũng
là điên đảo, điên đảo tức là bịnh lớn, ta nên xa lìa nó” – Thế nào là xa lìa ?
Lìa ngã và ngã sở – Thế nào là lìa ngã và ngã sở? Là lìa hai pháp – Thế nào là
lìa hai pháp ? Là không nghĩ các pháp trong, ngoài (9), mà thật hành theo bình
đẳng – Sao gọi bình đẳng ? Là ngã bình đẳng, Niết bàn bình đẳng. Vì sao ? Ngã
và Niết bàn hai pháp này đều không – Do đâu mà không ? Vì do văn tự nên không.
Như thế, hai pháp không có tánh quyết định. Nếu đặng nghĩa bình đẳng đó, thì
không có bịnh chi khác, chỉ còn có bịnh Không, mà bịnh Không cũng không nữa. Vị
Bồ Tát có bịnh dùng tâm không thọ mà thọ các món thọ, nếu chưa đầy đủ Phật pháp
cũng không diệt thọ mà thủ chứng (10), (như Nhị thừa). Dù thân có khổ, nên nghĩ
đến chúng sanh trong ác thú mà khởi tâm đại bi. Ta đã điều phục được tâm ta,
cũng nên điều phục cho tất cả chúng sanh. Chỉ trừ bịnh (chấp) mà không trừ
pháp, dạy cho dứt trừ gốc bịnh – Sao gọi là gốc bịnh ? Nghĩa là có phan duyên,
do có phan duyên mà thành gốc bịnh. Phan duyên nơi đâu? Ở trong ba cõi – Làm
thế nào đoạn phan duyên ? Dùng vô sở đắc; nếu vô sở đắc thì không có phan duyên
– Sao gọi là vô sở đắc ? Nghĩa là ly hai món chấp – Sao gọi là hai món chấp ?
Nghĩa là chấp trong và chấp ngoài (11); ly cả hai đó là vô sở đắc – Ngài Văn
Thù Sư Lợi ! Ðó là Bồ Tát có bịnh, điều phục tâm mình để đoạn các khổ : già,
bịnh, chết là Bồ Ðề của Bồ Tát. Nếu không như thế chỗ tu hành của mình không
được trí tuệ thiện lợi. Ví như người chiến thắng kẻ oán tặc mới là dõng, còn vị
nào trừ cả già, bịnh, chết như thế mới gọi là Bồ Tát – Bồ Tát có bịnh nên nghĩ
thêm thế này : “Như bịnh của ta đây, không phải là thật, không phải có; bịnh
của chúng sanh cũng không phải thật, không phải có”. Khi quán sát như thế, đối
với chúng sanh nếu có khởi lòng đại bi ái kiến (12) thì phải bỏ ngay. Vì sao ?
–Bồ Tát phải trừ dứt khách trần phiền não (13) mà khởi đại bi, chớ đại bi ái
kiến đối với sanh tử có tâm nhàm chán, nếu lìa được ái kiến thì không có tâm
nhàm chán, sanh ra nơi nào không bị ái kiến che đậy, không còn bị sự ràng buộc,
lại nói pháp cởi mở sự ràng buộc cho chúng sanh nữa. Như Phật nói : “Nếu mình
trói mà mở trói cho người khác, không thể được; nếu mình không bị trói mới mở
trói cho người khác được”. Vì thế, Bồ Tát không nên khởi những sự ràng buộc –
Sao gọi là ràng buộc ? Sao gọi là giải thoát ? Tham đắm nơi thiền vị là Bồ Tát
bị ràng buộc. Dùng phương tiện thọ sanh là Bồ Tát được giải thoát. Lại không có
phương tiện huệ thì buộc, có phương tiện huệ thì giải, không huệ phương tiện
thì buộc, có huệ phương tiện thì giải. Sao gọi không có phương tiện thì buộc ?
Bồ Tát dùng ái kiến trang nghiêm Phật độ, thành tựu chúng sanh, ở trong pháp
“không, vô tướng, vô tác” mà điều phục lấy mình, đó là không có phương tiện huệ
thì buộc – Sao gọi có phương tiện huệ thì giải ? Bồ Tát không dùng ái kiến
trang nghiêm Phật độ, thành tựu chúng sanh, ở trong pháp “không, vô tướng, vô
tác”, điều phục lấy mình, không nhàm chán mõi mệt, đó là có phương tiện huệ thì
giải – Sao gọi là không có huệ phương tiện thì buộc ? Bồ Tát trụ nơi các món
phiền não, tham dục, sân hận, tà kiến v.v... mà trồng các cội công đức, đó là
không có huệ phương tiện thì buộc – Sao gọi có huệ phương tiện thì giải ? Là xa
lìa các thứ phiền não, tham dục, sân hận, tà kiến v.v... mà vun trồng các cội
công đức, hồi hướng Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, đó là có huệ phương tiện
thì giải – Ngài Văn Thù Sư Lợi ! Bồ Tát có bịnh đấy phải quán sát các pháp như
thế (quán phi chơn, phi hữu...). Lại nữa, quán thân vô thường, khổ, không, vô
ngã, đó là “huệ”. Dù thân có bịnh vẫn ở trong sanh tử làm lợi ich chúng sanh
không nhàm mõi, đó là “phương tiện”. Lại nữa quán thân : thân không rời bịnh,
bịnh chẳng rời thân, bịnh này, thân này, không phải mới, không phải cũ, đó là
“huệ”. Dù thân có bịnh mà không nhàm chán trọn diệt độ, đó là “phương
tiện”.
- Ngài Văn Thù Sư Lợi !
Bồ Tát có bịnh nên điều phục tâm mình như thế, mà không trụ trong đó, cũng
không trụ nơi tâm không điều phục. Vì sao? Nếu trụ nơi tâm không điều phục là
pháp của phàm phu, nếu trụ nơi tâm điều phục là pháp của Thanh Văn, cho nên Bồ
Tát không nên trụ nơi tâm điều phục hay không điều phục, lìa hai pháp ấy là
hạnh Bồ Tát. Ở trong sanh tử mà không bị nhiễm ô, ở nơi Niết bàn mà không diệt
độ hẳn là hạnh Bồ Tát. Không phải hạnh phàm phu, không phải hạnh Hiền thánh là
hạnh Bồ Tát. Không phải hạnh nhơ, không phải hạnh sạch là hạnh Bồ Tát. Tuy vượt
khỏi hạnh ma mà hiện các việc hàng phục ma là hạnh Bồ Tát. Cầu nhứt thiết trí,
không cầu sái thời (14) là hạnh Bồ Tát. Dù quán các pháp không sanh mà không
vào chánh vị (chơn như) là hạnh Bồ Tát. Quán mười hai duyên khởi(15) mà vào các
tà kiến là hạnh Bồ Tát. Nhiếp độ tất cả chúng sanh mà không mê đắm chấp trước là
hạnh Bồ Tát. Ưa xa lìa mà không nương theo sự dứt đoạn thân tâm là hạnh Bồ Tát.
Tuy ở trong ba cõi mà không hoại pháp tánh là hạnh Bồ Tát. Tuy quán “không” mà
gieo trồng các cội công đức là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành vô tướng mà cứu độ
chúng sanh là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành vô tác mà quyền hiện thọ thân là hạnh
Bồ Tát. Dù thật hành vô khởi (16) mà khởi tất cả hạnh lành là hạnh Bồ Tát. Dù
thật hành sáu pháp ba la mật (l7) mà biết khắp các tâm, tâm sở của chúng sanh
là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành sáu pháp thần thông mà không dứt hết lậu hoặc(18)
(phiền não) là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành bốn tâm vô lượng mà không tham đắm
sanh về cõi Phạm Thế (Phạm thiên) là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành thiền định, giải
thoát, tam muội, mà không theo thiền định thọ sanh là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành
bốn pháp niệm xứ mà không hoàn toàn lìa hẳn thân, thọ, tâm, pháp là hạnh Bồ
Tát. Dù thật hành bốn pháp chánh cần mà không rời thân tâm tinh tấn là hạnh Bồ
Tát. Dù thật hành bốn pháp như ý túc mà đặng thần thông tự tại là hạnh Bồ Tát.
Dù thật hành năm căn mà phân biệt rành rẽ các căn lợi độn của chúng sanh là
hạnh Bồ Tát. Dù thật hành năm lực mà ưa cầu thập lực của Phật là hạnh Bồ Tát.
Dù thật hành bảy pháp giác chi mà phân biệt rõ rệt trí tuệ của Phật là hạnh Bồ
Tát. Dù thật hành tám pháp chánh đạo mà ưa tu vô lượng Phật đạo là hạnh Bồ Tát.
Dù thật hành các pháp chỉ quán trợ đạo mà trọn không thiên hẳn nơi tịch diệt
(Niết bàn) là hạnh Bồ Tát. Dù thật hành các pháp bất sanh bất diệt, mà dùng
tướng hảo trang nghiêm thân mình là hạnh Bồ Tát. Dù hiện oai nghi theo Thanh
Văn, Duyên Giác mà không rời Phật pháp là hạnh Bồ Tát. Dù tùy theo tướng hoàn
toàn thanh tịnh của các pháp mà tùy theo chỗ sở ứng hiện thân là hạnh Bồ Tát.
Dù quán sát cõi nước của chư Phật trọn vắng lặng như hư không mà hiện ra rất
nhiều cõi Phật thanh tịnh là hạnh Bồ Tát. Dù chứng đặng quả Phật, chuyển Pháp
luân, nhập Niết bàn mà không bỏ đạo Bồ Tát là hạnh Bồ Tát vậy.
Khi ông Duy Ma Cật nói
những lời ấy rồi, cả đại chúng đi theo ngài Văn Thù Sư Lợi, trong đó tám nghìn
vị Thiên tử đều phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Chú thích của phẩm V
1. Văn Thù Sư Lợi :
(Manjusri) Tàu dịch là Diệu Ðức, nghĩa là đầy đủ ba đức lớn : 1)Tín, 2)Hạnh,
3)Trí. Ngài chứng đặng thật trí, liễu ngộ Phật tánh, thông đạt chỗ huyền bí của
các pháp, nên đứng đầu trong hàng môn sanh của Phật.
2. 62 món kiến chấp : Ðã
giải ở phẩm III số 43.
3. Tìm nơi tâm hạnh của
chúng sanh : Ý nói giải thoát triền phược đồng một chơn tánh, nên không phải
ngoài vọng có chơn, ngoài phàm phu triền phược mà có chư Phật giải thoát.
4. Vào nơi quá khứ : Ý
nói an ủi vị Bồ Tát có bịnh ăn năn lỗi trước, nhưng không nói lỗi ấy có thật
tánh thường còn đi vào nơi quá khứ, vì muốn phá trừ các tướng chấp thường
kia.
5. Chấp ngã : Quan niệm
thân tâm là thật.
6. Ngã tưởng : vọng
tưởng so đo suy nghĩ cho thân tâm có cái chủ tể thường còn chơn thật.
7. Chúng sanh tưởng :
vọng tưởng cố chấp cho chúng sanh là thực có.
8. Pháp tưởng : Tưởng
niệm các pháp do nhơn duyên hợp thành, không tự chủ, không thật có.
9. Pháp trong và ngoài :
Là căn, trần, hay tâm, cảnh.
10. Diệt thọ thủ chứng :
Nhập diệt tận định, dứt hết các tâm niệm tư tưởng xúc, thọ để chứng lấy cảnh
Niết bàn an vui. Tức lối cầu chứng của hàng Nhị thừa, vì thấy cảnh vật phiền
tạp, chúng sanh vô số điên đảo khó bề giáo hóa chuyển đổi được, nên lánh vào
cảnh giới an lặng riêng vui.
11. Chấp trong và chấp
ngoài : Trong là vọng tưởng, ngoài là các pháp. Cả hai đều là hư vọng giả dối,
nên trọn không chỗ đặng.
12. Ðại bi ái kiến : Là
thấy có chúng sanh khổ sanh tâm ái trước, mà khởi lòng đại bi ra sức tế độ. Ðó
là các hàng Bồ Tát quyền thừa chưa dứt trừ phiền não, còn mê sự mê lý, mà vận
lòng từ bi ra cứu độ chúng sanh nên còn chấp tướng người bị độ, mình hay độ,
thường sanh ra tư tưởng nhàm chán mỏi mệt.
13. Khách trần phiền não
: Phiền não tánh cách nó không chơn thật thường hằng, khi khởi khi diệt, cũng
như người khách thường qua lại đó đây, không phải thường an trú như chủ gia;
lại nó như bụi trần thường xao động luôn, không đứng lặng như hư không, gọi là
khách trần phiền não.
14. Không cầu sái thời :
Chưa được nhứt thiết trí mà cầu chứng bản thể trung đạo là cầu sái thời, nếu
trái lại là không cầu sái thời.
15. Mười hai duyên khởi
: Tức là 12 nhơn duyên phối hợp sanh khởi các pháp :
1) Vô minh : không rõ được bổn tánh.
2) Hành : Hành nghiệp là những nghiệp lực phiền não trong tâm niệm.
3) Thức : chỉ cho A lại da thức.
4) Danh sắc : các cảm giác tư tưởng về phần tâm và các căn về hình sắc.
5) Lục nhập : Sáu căn nhập với sáu trần.
6) Xúc : Sáu căn xúc đối sáu trần.
7) Thọ : Lãnh nạp những cảnh tốt xấu khổ vui.
8) Ái : Tham mến những vật tốt đẹp.
9) Thủ : Ðắm trước tham cầu những cảnh ngũ trần.
10) Hữu : vì sự tham cầu nên tạo những nghiệp nhân thiện, ác, phải chịu quả báo
trong ba cõi.
11) Sanh : Do nghiệp nhân thiện, ác, nên phải thọ sanh trong sáu đường.
12) Lão tử : Sau khi thọ sanh, thân ngũ ấm lần lần già chết.
16. Vô khởi : Cũng gọi
là Vô sanh. Quán các pháp như huyễn như hóa, không có cái nhơn sanh khởi.
17. Sáu pháp Ba la mật
:
1) Bố thí,
2) Trì giới,
3)Nhẫn nhục,
4) Tinh tấn,
5) Thiền định,
6) Trí tuệ.
18. Lậu hoặc : Các phiền
não mê lầm làm cho rơi lọt trong 3 cõi.
|
|
KINH DUY-MA-CẬT
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
* * * * *
VI. PHẨM BẤT TƯ NGHỊ
(1)
Lúc bấy giờ Ngài Xá
Lợi Phất thấy trong nhà ông Duy Ma Cật không có giường ngồi (bàn ghế) chi
hết, mới nghĩ rằng : các Bồ Tát và hàng Ðại đệ tử đây sẽ ngồi nơi đâu
?
Trưởng giả Duy Ma
Cật biết được ý đó , liền nói với Ngài Xá Lợi Phất rằng :
- Thế nào, Nhân giả vì pháp mà đến, hay vì giường ngồi mà đến ?
Ngài Xá Lợi Phất nói
:
- Tôi vì Pháp mà đến, chớ không phải vì giường ngồi.
Ông Duy Ma Cật nói :
- Ngài Xá Lợi Phất ! Vả chăng người cầu pháp, thân mạng còn không tham
tiếc, huống chi là giường ngồi. Vả người cầu pháp không phải có sắc, thọ,
tưởng, hành, thức (năm uẩn) mà cầu; không phải có giới (18 giới), nhập (12
nhập) mà cầu; không phải có dục giới, sắc giới, vô sắc giới (ba cõi) mà
cầu. –Ngài Xá Lợi Phất ! Vả chăng người cầu pháp không đắm trước nơi Phật
mà cầu, không đắm trước nơi Pháp mà cầu, không đắm trước nơi chúng (tăng)
mà cầu. Vả người cầu Pháp không thấy khổ mà cầu, không đoạn tập mà cầu,
không đến chứng diệt, tu đạo mà cầu. Vì sao ? – Vì pháp không hý luận(2).
Nếu nói : ta phải thấy khổ, đoạn tập, chứng diệt, tu đạo, đó là hý luận
không phải cầu pháp - Ngài Xá Lợi Phất ? Pháp là tịch diệt, nếu thật hành
pháp sanh diệt là cầu pháp sanh diệt, không phải cầu pháp. Pháp là không
nhiễm, nếu nhiễm nơi Pháp cho đến Niết bàn, đó là nhiễm đắm, không phải cầu
Pháp. Pháp không chỗ làm, nếu làm nơi pháp, đó là chỗ làm không phải cầu
Pháp. Pháp không thủ xả, nếu thủ xả pháp, đó là thủ xả, không phải cầu
pháp. Pháp không xứ sở, nếu chấp trước xứ sở, đó là chấp trước nơi xứ sở
không phải cầu Pháp. Pháp không có tướng, nếu nhân tướng mà biết, đó là cầu
tướng không phải cầu pháp. Pháp không thể trụ, nếu trụ nơi Pháp, đó là trụ
nơi pháp không phải cầu Pháp. Pháp không thể thấy, nghe, hay, biết, nếu làm
theo thấy, nghe, hay, biết, đó là thấy nghe hay biết không phải cầu pháp.
Pháp là vô vi, nếu làm hữu vi là cầu hữu vi không phải cầu pháp. Vì thế,
Ngài Xá Lợi Phất, nếu người cầu pháp, đối với tất cả pháp, không có cầu
đến.
Khi ông Duy Ma Cật nói lời ấy rồi, năm trăm vị Thiên tử ở trong các pháp
được Pháp nhãn thanh tịnh.
Bấy giờ Trưởng giả
Duy Ma Cật hỏi ngài Văn Thù Sư Lợi rằng:
- Thưa Ngài, Ngài dạo đi trong vô lượng nghìn muôn ức a tăng kỳ (3) (vô số)
quốc độ, thấy cõi Phật nào có những tòa Sư tử tốt đẹp thượng diệu do công
đức tạo thành ?
Ngài Văn Thù Sư Lợi
nói :
- Cư sĩ ! Về phương đông cách đây khỏi ba mươi sáu số cát sông Hằng(4) cõi
Phật, có thế giới tên Tu Di Tướng, Đức Phật ở thế giới ấy hiệu là Tu Di
Ðăng Vương, hiện vẫn còn. Thân Phật cao tám muôn bốn nghìn do tuần(5), tòa
Sư tử cũng cao như thế, trang nghiêm tốt đẹp bực nhứt.
Lúc ấy, Trưởng giả
Duy Ma Cật hiện sức thần thông, tức thời đức Phật ở cõi nước kia điều khiển
ba vạn hai nghìn tòa Sư tử cao rộng nghiêm sạch đến trong nhà ông Duy Ma
Cật. Các Bồ Tát, Ðại đệ tử, Ðế Thích, Phạm Thiên, Tứ Thiên Vương tất cả đều
thấy việc xưa nay chưa từng thấy.
Nhà ông Duy Ma Cật
rộng rãi trùm chứa cả ba vạn hai nghìn tòa Sư tử không ngăn ngại, mà ở nơi
thành Tỳ Da Ly cho đến bốn thiên hạ cõi Diêm Phù Ðề cũng không bị ép chật,
tất cả đều thấy y nguyên như thế.
Ông Duy Ma Cật mời
Ngài Văn Thù Sư Lợi và các Bồ Tát thượng nhơn ngồi nơi tòa Sư tử, song phải
hiện thân mình đứng cao bằng tòa kia. Tức thời các Bồ Tát có thần thông
liền biến hiện thân hình cao bốn muôn hai nghìn do tuần đến ngồi nơi tòa Sư
tử, còn các Bồ Tát mới phát tâm và hàng Ðại đệ tử đều không lên được.
Lúc đó, ông Duy Ma
Cật mời Ngài Xá Lợi Phất lên tòa Sư tử ngồi.
Ngài Xá Lợi Phất đáp
:
- Thưa Cư sĩ ! Tòa này cao rộng quá tôi không lên được.
Ông Duy Ma Cật nói
:
- Ngài Xá Lợì Phất, phải đảnh lễ đức Tu Di Ðăng Vương Như Lai mới có thể
ngồi được.
Khi ấy, các vị Bồ
Tát mới phát tâm và hàng Ðại đệ tử đều đảnh lễ đức Tu Di Ðăng Vương Như
Lai, rồi ngồi được ngay nơi tòa Sư tử.
Ngài Xá Lợi Phất nói :
- Thưa Cư sĩ ! Thật chưa từng có. Như cái nhà nhỏ tí này mà dung được các
tòa cao rộng như thế, mà nơi thành Tỳ Da Ly không có ngăn ngại, các tụ lạc,
thành ấp, cũng những cung điện chư Thiên, Long Vương, quỉ thần trong bốn
thiên hạ ở cõỉ Diêm Phù Ðề cũng không ép chật.
Ông Duy Ma Cật nói
:
- Ngài Xá Lợi Phất ! Chư Phật và chư Bồ Tát có Pháp “giải thoát” tên là
“bất khả tư nghị”. Nếu Bồ Tát trụ nơi pháp giải thoát đó, lấy núi Tu Di
rộng lớn nhét vào trong hột cải vẫn không thêm bớt, hình núi Tu Di vẫn y
nguyên, mà trời Tứ Thiên vương và Ðạo Lợi thiên vương không hay không biết
đã vào đấy, chỉ có những người đáng độ được mới thấy núi Tú Di vào trong
hột cải, đó là Pháp môn “bất khả tư nghị giải thoát”. Lại lấy nước bốn biển
lớn cho vào trong lỗ chưn lông, không có khuấy động các loài thủy tộc như
cá trạnh, ngoan đà(8), mà các biển lớn kia cũng vẫn y nguyên. Các loài
rồng, quỉ thần, A Tu La v.v... đều không hay không biết mình đi vào đấy, và
các loài ấy cũng không có loạn động.
Lại nữa, Ngài Xá Lợi
Phất ? Bồ Tát ở nơi Pháp bất khả tư nghị giải thoát, rút lấy cõi tam thiên
đại thiên thế giới nhanh như bàn tròn của thợ gốm, rồi để trong bàn tay hữu
quăng ra ngoài khỏi những thế giới như số cát sông Hằng, mà chúng sanh
trong đó không hay không biết mình có đi đâu, lại đem trở về chỗ cũ, mà
người không biết có qua có lại, và thế giới ấy cũng vẫn y nguyên.
Lại nữa, Ngài Xá Lợi
Phất ? Hoặc có chúng sanh nào ưa ở lâu trong đời mà có thể độ được. Bồ Tát
liền kéo dài bảy ngày ra làm một kiếp (7) để cho chúng sanh kia gọi là một kiếp;
hoặc có chúng sanh nào không ưa ở lâu trong đời mà có thể độ được, Bồ Tát
liền thâu ngắn một kiếp lại làm bảy ngày, để cho chúng sanh kia gọi là bảy
ngày.
Lại nữa, Ngài Xá Lợi
Phất ! Bồ Tát trụ nơi pháp bất khả tư nghị giải thoát, đem những việc tốt
đẹp của tất cả cõi Phật gom về một nước chỉ bày cho chúng sanh. Lại nữa, Bồ
Tát đem tất cả chúng sanh ở tất cả cõi Phật để trên bàn tay hữu của mình
rồi bay đến mười phương bày ra cho ai cũng thấy tất cả mà bản xứ không lay
động. – Lại nữa, Ngài Xá Lợi Phất ! Những đồ cúng dường chư Phật của chúng
sanh trong mười phương, Bồ Tát làm cho tất cả đều thấy nơi một lỗ chơn
lông. Lại nữa, bao nhiêu nhựt nguyệt, tinh tú trong các cõi nước ở mười
phương, Bồ Tát đều làm cho mọi người thấy rõ nơi một lỗ chưn lông.
Lại nữa, Ngài Xá Lợi Phất ! Bao nhiêu thứ gió ở các cõi nước trong mười
phương, Bồ Tát có thể hút vào trong miệng mà thân không hề tổn hại, những
cây cối ở bên ngoài cũng không xiêu, ngã, trốc, gảy. Lại khi kiếp lửa cháy
tan cõi nước ở mười phương, Bồ Tát đem tất cả lửa để vào trong bụng, lửa
cũng vẫn y nguyên mà không chút gì làm hại. Lại quá số cát sông Hằng thế
giới Phật về phương dưới, lấy một cõi Phật đem để cách khỏi số cát sông
Hằng thế giới ở phương trên như cầm mũi kim nhọn ghim lấy một lá táo mà không
có tổn hại.
Lại nữa, Ngài Xá Lợi
Phất ! Bồ Tát trụ cảnh “bất khả tư nghị giải thoát” hay dùng thần thông
hiện làm thân Phật hoặc hiện thân Bích Chi Phật, thân Thanh Văn, thân Ðế
Thích, thân Phạm Vương, thân Thế chúa(8), hoặc thân Chuyển luân thánh vương.
Các thứ tiếng to, tiếng vừa; tiếng nhỏ ở các cõi nước mười phương đều biến
thành tiếng Phật diễn nói pháp vô thường, khổ, không, vô ngã và những pháp
của chư Phật ở mười phương nói ra làm cho khắp tất cả đều được nghe.
Ngài Xá Lợi Phất !
Nay tôi chỉ nói qua thần lực giải thoát bất khả tư nghị của Bồ Tát như thế,
nếu nói cho đủ đến cùng kiếp cũng không hết được.
Khi đó Ngài Ðại Ca
Diếp nghe nói pháp môn “Bất khả tư nghị giải thoát” của Bồ Tát, ngợi khen
chưa từng có, mới bảo Ngài Xá Lợi Phất rằng: “Ví như có người ở trước người
mù phô bày các thứ hình sắc, người mù kia đâu thể thấy được. Nay tất cả
hàng Thanh Văn nghe pháp môn “bất khả tư nghị giải thoát” này cũng đâu thể
hiểu được. Người trí nghe pháp môn này ai mà chẳng phát tâm Vô Thượng Chánh
Ðẳng Chánh Giác. Tại sao chúng ta mất hẳn giống ấy, đối với Pháp Ðại thừa
này đã như hột giống thúi ? Tất cả hàng Thanh Văn nghe pháp môn “bất khả tư
nghị giải thoát” này đều phải than khóc tiếng vang động cõi Tam thiên đại
thiên thế giới, còn tất cả Bồ Tát nên hết sức vui mừng mà vưng lãnh pháp
ấy. Nếu có Bồ Tát nào tin hiểu pháp môn “bất khả tư nghị giải thoát” này
thời tất cả chúng ma không thể làm gì được.
Khi Ngài Ðại Ca Diếp
nói như thế rồi có ba vạn hai nghìn vị thiên tử đều phát tâm Vô Thượng
Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Bấy giờ ông Duy Ma
Cật nói với Ngài Ðại Ca Diếp rằng :
- Ngài Ðại Ca Diếp ! Các vị làm ma vương trong vô lượng vô số cõi nước ở
mười phương phần nhiều là bực Bồ Tát trụ nơi pháp bất khả tư nghị giái
thoát, vì dùng sức phương tiện giáo hóa chúng sanh nên thị hiện làm ma
vương.
Lại nữa, Ngài Ca
Diếp ! Vô lượng Bồ Tát ở mười phương, hoặc có người đến xin tay, chân, tai,
mũi, đầu, mắt, tủy não, huyết, thịt, da xương, xóm làng, thành ấp, vợ con,
tôi tớ, voi ngựa, xe cộ, vàng bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách,
trân châu, đồi mồi, y phục và các món ăn uống, mà người xin đó phần nhiều
là bực Bồ Tát trụ pháp bất khả tư nghị giải thoát dùng sức phương tiện đến
thử thách để làm cho các Bồ Tát kia thêm kiên cố. Vì sao ? Bồ Tát trụ pháp
Bất khả tư nghị giải thoát có thần lực oai đức nên mới dám làm việc bức
ngặt để chỉ bày cho chúng sanh những việc khó làm như thế. Còn kẻ phàm phu
hạ liệt không có thế lực, không thể làm bức ngặt được Bồ Tát, ví như con
long tượng dày đạp, không phải sức lừa kham chịu nổi. Ðó là môn trí tuệ
phương tiện của Bồ Tát ở nơi pháp “bất khả tư nghị giải thoát” vậy.
Chú thích của phẩm
VI
1. Bất tư nghị : Coi
theo nghĩa số 3 ở phẩm I.
2. Hý luận : Những
lời biện luận vô nghĩa, không đúng lý như thật. Trong Trung Luận nói : “Hý
luận có 2 cách : 1) Ái luận, nghĩa là : Ðối với tất cả pháp có tâm chấp
đắm; 2) Kiến luận, là đối với tất cả pháp, khởi ra tri kiến cho là quyết
định đúng lý”. Do ái kiến như thế làm mê mờ tâm tánh, mà sanh ra các thứ
ngôn luận bất chánh gọi là hý luận.
3. A tăng kỳ :
(Asamkhya) Tàu dịch là vô số, nghĩa là một số rất nhiều không tính đếm
đặng. A tăng kỳ là số đứng đầu trong 10 số lớn : 1) A tăng kỳ, 2) Vô
lượng, 3) Vô biên, 4) Vô đẳng, 5) Bất khả sổ, 6)
Bất khả xưng, 7) Bất khả tư, 8) Bất khả lượng, 9) Bất khả
thuyết, 10) Bất khả thuyết Bất khả thuyết.
4. Hằng hà sa : Cát
sông Hằng, dụ cho số rất nhiều không thể lường tính đặng. Sông Hằng (Gange)
là một con sông rất lớn ở nước Thiên Trúc, phát nguyên từ ao vô nhiệt não ở
Hy mã lạp sơn bên Ấn độ chảy ra Ấn Ðộ dương (Océan Indien). Lòng sông và
hai bên bờ có cát rất nhiều và mịn. Ðương thời đức Phật nói pháp, gặp số gì
quá nhiều đều mượn đó mà thí dụ.
5. Do tuần : Có 3
hạng : 1) 40 dặm tàu, 2) 60 dặm, 3) 80 dặm.
6. Ngoan Ðà : Ngoan
là con giải. Ðà là một loại cá sấu dài hơn hai trượng, bốn chân, da nó dùng
dể bịt trống.
7. Một kiếp : Nghĩa
là một khoảng thời gian rất lâu dài. Một kiếp lớn có 4 kiếp trung, 1 kiếp
trung có 20 kiếp nhỏ. Trong một kiếp nhỏ có 16.800.000 năm; một kiếp trung
có 16.800.000 x 20 = 336.000.000 năm. Một kiếp lớn có 336.000.000 x 4 =
1.344.000.000 năm.
8. Thế chúa : Có chỗ
chỉ Tứ Thiên Vương, hay là vị Phạm Thiên, hoặc là vị Ðại Tự Tại Thiên, tức
là vị làm chủ trong cõi thế gian.
|
|
KINH DUY-MA-CẬT
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
* * * * *
VII. PHẨM QUÁN CHÚNG
SANH (1)
Lúc bấy giờ Ngài Văn Thù
Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật rằng :
- Bồ Tát quán sát chúng sanh phải thế nào ?
Ông Duy Ma Cật đáp
:
- Ví như nhà huyễn thuật thấy người huyễn của mình hóa ra, Bồ Tát quán sát
chúng sanh cũng như thế. Như người trí thấy trăng dưới nước, thấy mặt trong
gương, như ánh nắng dợn, như vang của tiếng, như mây giữa hư không, như bọt
nước, như bóng nổi, như cây chuối bền chắc, như chớp dừng lâu, như đại thứ
năm(2), như ấm thứ sáu(3), như tình (căn) thứ bảy(4), như nhập thứ mười ba(5),
như giới thứ mười chín(6). Bồ Tát quán sát chúng sanh cũng như thế. Như sắc
chất cõi vô sắc(7), như mộng lúa hư, như thân kiến của Tu đà hoàn(8), như sự
nhập thai của A na hàm(9), như tam độc của A la hán (10), như tham giận phá
giới của Bồ Tát chứng vô sanh nhãn, như tập khí phiền não của Phật, như người
mù thấy sắc tượng, như hơi thở ra vào của người nhập diệt tận định(11), như dấu
chim giữa hư không, như con của đàn bà không sanh đẻ (Thạch nữ)(12), như phiền
não của người huyễn hóa, như cảnh chiêm bao khi đã thức, như người diệt độ thọ
lấy thân, như lửa không khói. Bồ Tát quán sát chúng sanh cũng như thế đó.
Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi
:
- Nếu Bồ Tát quán sát như thế phải thật hành lòng từ thế nào ?
Ông Duy Ma Cật đáp rằng
:
- Bồ Tát quán sát như thế rồi phải tự nghĩ rằng : “Ta phải vì chúng sanh nói
pháp như trên, đó là lòng từ chân thật. Thật hành lòng từ tịch diệt, bởi vì
không sanh. Thật hành lòng từ không nóng bức, bởi không có phiền não. Thật hành
lòng từ bình đẳng, bởi ba đời như nhau. Thật hành lòng từ không đua tranh, bởi
không có khởi. Thật hành lòng từ không hai, bởi trong ngoài (căn trần) không
hiệp. Thật hành lòng từ không hoại, bởi hoàn toàn không còn. Thật hành lòng từ
kiên cố, bởi lòng không hủy hoại. Thật hành lòng từ thanh tịnh, bởi tánh các
pháp trong sạch. Thật hành lòng từ vô biên, vì như hư không. Thật hành lòng từ
A la hán, vì phá các giặc kiết sử(13). Thật hành lòng từ Bồ Tát, vì an vui
chúng sanh. Thật hành lòng từ Như Lai, vì đặng tướng như như. Thật hành lòng từ
của Phật, vì giác ngộ chúng sanh. Thật hành lòng từ tự nhiên, vì không nhơn đâu
mà đặng. Thật hành lòng từ Bồ Ðề, chỉ có một vị. Thật hành lòng từ vô đẳng
(không chi sánh bằng), vì đoạn các ái kiến. Thật hành lòng từ đại bi, dẫn dạy
cho pháp Ðại thừa. Thật hành lòng từ không nhàm mỏi, quán không, vô ngã. Thật
hành lòng từ pháp thí, không có luyến tiếc. Thật hành lòng từ trì giới, để hóa
độ người phá giới. Thật hành lòng từ nhẫn nhục, để ủng hộ người và mình. Thật
hành lòng từ tinh tấn, để gánh vác chúng sanh. Thật hành lòng từ thiền định,
không thọ mùi thiền. Thật hành lòng từ trí tuệ, đều biết đúng nhịp. Thật hành
lòng từ phương tiện, thị hiện tất cả. Thật hành lòng từ không ẩn dấu, lòng ngay
trong sạch. Thật hành lòng từ thâm tâm, không có hạnh xen tạp. Thật hành lòng
từ không phỉnh dối, không có lừa gạt. Thật hành lòng từ an vui, làm cho tất cả
được sự an vui của Phật. Lòng từ của Bồ Tát là như thế đó.
Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi
:
- Sao gọi là lòng bi ?
- Bồ Tát làm công đức gì cốt để cho chúng sanh.
- Sao gọi là lòng hỷ ?
- Có lợi ích đều hoan hỷ, không hối hận.
- Sao gọi là lòng xả ?
- Những phước báu đã làm, không có lòng hy vọng.
Ngài Văn Thù Sư Lợi lại
hỏi :
- Sự sanh tử đáng sợ, Bồ Tát phải y nơi đâu ?
Ông Duy Ma Cật đáp
:
- Bồ Tát ở trong sanh tử đáng sợ đó, phải y nơi sức công đức của Như Lai.
Ngài Văn Thù Sư Lợi lại
hỏi :
- Bồ Tát muốn y sức công đức của Như Lai, phải trụ nơi đâu ?
- Bồ Tát muốn y sức công đức của Như Lai, phải trụ nơi chỗ độ thoát tất cả
chúng sanh.
Lại hỏi :
- Muốn độ chúng sanh phải trừ những gì ?
- Muốn độ chúng sanh phải trừ phiền não.
- Muốn trừ phiền não phải thật hành những gì ?
- Phải thật hành chánh niệm.
- Thế nào là thật hành chánh niệm ?
- Phải thật hành pháp không sanh không diệt.
- Pháp gì không sanh, pháp gì không diệt ?
- Pháp bất thiện không sanh, pháp thiện không diệt.
- Pháp thiện và pháp bất thiện lấy gì làm gốc ?
- Thân là gốc.
- Thân lấy gì làm gốc ?
- Tham dục là gốc.
- Tham dục lấy gì làm gốc ?
- Hư vọng phân biệt là gốc.
- Hư vọng phân biệt lấy gì làm gốc ?
- Tưởng điên đảo là gốc.
- Tưởng điên đảo lấy gì làm gốc ?
- Không trụ(14) là gốc.
- Không trụ lấy gì làm gốc ?
- Không trụ thì không gốc.
Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi, ở nơi “gốc không trụ mà lập tất cả pháp”.
Bấy giờ trong nhà ông
Duy Ma Cật có một Thiên nữ thấy các vị trời, người đến nghe pháp, liền hiện
thân ra tung rải hoa trời trên mình các vị Bồ Tát và Ðại đệ tử. Khi hoa đến
mình các vị Bồ Tát đều rơi hết, đến các vị Ðại đệ tử đều mắc lại. Các vị Ðại đệ
tử dùng hết thần lực phủi hoa mà hoa cũng không rớt.
Lúc ấy, Thiên nữ hỏi
Ngài Xá Lợi Phất :
- Tự sao mà phủi hoa ?
Xá Lợi Phất nói :
- Hoa này không như pháp nên phủi.
- Chớ bảo hoa này là
không như pháp. Vì sao ? Hoa này nó không có phân biệt, tự Nhân giả phân biệt
đó thôi ! Nếu người xuất gia ở trong Phật pháp có phân biệt là không như pháp,
nếu không phân biệt là như pháp. Ðấy, xem các vị Bồ Tát, hoa có dính đâu ? Vì
đã đoạn hết tưởng phân biệt. Ví như người lúc hồi hộp sợ, thời phi nhơn mới
thừa cơ hại đặng. Như thế, các vị Ðại đệ tử vì sợ sanh tử nên sắc thinh, hương,
vị, xúc mới thừa cơ được, còn người đã lìa được sự sợ sệt thì tất cả năm món
dục không làm chi đặng. Do tập khí kiết sử chưa dứt hết nên hoa mới mắc nơi
thân thôi, còn người kiết tập(15) hết rồi, hoa không mắc được.
Ngài Xá Lợi Phất nói
:
- Thiên nữ ở nhà này đã được bao lâu ?
- Tôi ở nhà này như Ngài được giải thoát.
- Ở đây đã lâu ư ?
- Ngài giải thoát cũng lâu như thế nào ?
Ngài Xá Lợi Phất nín
lặng không đáp.
Thiên nữ nói :
- Tại sao bực kỳ cựu(16) đại trí lại nín lặng ?
- Giải thoát không có
ngôn thuyết, nên ở nơi đó ta không biết nói làm sao !
Thiên nữ nói :
- Ngôn thuyết văn tự đều là tướng giải thoát. Vì sao ? Vì giải thoát không ở
trong, không ở ngoài, không ở hai bên, văn tự cũng không ở trong, không ở
ngoài, không ở hai bên. Thế nên, Ngài Xá Lợi Phất, chớ rời văn tự mà nói giải
thoát. Vì sao ? Vì tất cả pháp là tướng giải thoát.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi
:
- Không cần ly dâm, nộ, si, được giải thoát ư ?
Thiên nữ nói :
- Phật vì kẻ tăng thượng mạn nói ly dâm, nộ, si là giải thoát thôi, nếu kẻ
không tăng thượng mạn thời Phật nói tánh của dâm nộ, si là giải thoát.
Ngài Xá Lợi Phất nói
:
- Hay thay, hay thay, Thiên nữ ! Nàng được cái gì, chứng cái gì mà biện tài như
thế ?
Thiên nữ nói :
- Tôi không được, không chứng, mới được biện tài như thế. Vì sao ? -Nếu
có được, có chứng thời ở trong Phật pháp là kẻ tăng thượng mạn(17).
Ngài Xá Lợi Phất hỏi
Thiên nữ :
- Ở trong ba thừa(18) , ý nàng cầu thừa nào ?
Thiên nữ nói :
- Cần pháp Thanh Văn để hóa độ chúng sanh, tôi làm Thanh Văn; cần pháp nhơn
duyên để hóa độ chúng sanh, tôi làm Bích Chi Phật, cần pháp đại bi để hóa độ
chúng sanh, tôi làm Ðại thừa. Thưa Ngài Xá Lợi Phất ! Như người vào rừng chiêm
bặc(19), chỉ ngửi có mùi chiêm bặc, chứ không còn mùi hương nào khác. Cũng như
người vào nhà này chỉ ngửi mùi hương công đức của Phật chớ không ưa ngửi mùi
hương công đức của Thanh Văn và Bích Chi Phật.
Thưa Ngài Xá Lợi Phất !
Có những vị Ðế thích Phạm Vương, Tứ Thiên Vương và chư Thiên, long thần, quỉ cả
thảy vào trong nhà này nghe Thượng nhân đây giảng nói chánh pháp, đều ưa mùi
hương công đức của Phật phát tâm rồi ra.
Thưa Ngài Xá Lọi Phất,
tôi ở nhà này đã mười hai năm chưa từng nghe nói pháp Thanh Văn, Bích chi Phật,
Chỉ nghe đại từ đại bi của Bồ Tát và những pháp bất khả tư nghị của chư Phật.
Thưa Ngài Xá Lợi Phất ! Nhà này thường hiện ra tám pháp “chưa từng có, khó
đặng”. Tám pháp là gì ?
Nhà này thường dùng ánh
sáng sắc vàng soi chiếu ngày đêm không khác, chẳng cần ánh sáng của nhật nguyệt
soi chiếu, đó là pháp “chưa từng có, khó đặng” thứ nhất, – Nhà này hễ ai vào
rồi không còn bị các thứ cấu nhiễm làm não loạn, đó là pháp “chưa từng có khó
đặng” thứ hai. – Nhà này thường có các vị Ðế Thích, Phạm Thiên, Tứ Thiên Vương
và các Bồ Tát ở phương khác nhóm họp không ngớt, đó là pháp “chưa từng có, khó
đặng” thứ ba. – Nhà này thường nói sáu pháp Ba la mật và pháp bất thối chuyển,
đó là pháp “chưa từng có, khó đặng” thứ tư. Nhà này thường trổi âm nhạc bực nhứt
của trời, người, vang ra vô lượng tiếng pháp, đó là pháp “chưa từng có, khó
đặng” thứ năm. – Nhà này có bốn kho tàng lớn chứa đầy các món báu, giúp khắp
cho kẻ nghèo thiếu, hễ cầu liền được không bao giờ hết, đó là pháp “chưa từng
có, khó đặng” thứ sáu. – Nhà này Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Ðà, Phật A
Súc, Phật Bửu Ðức, Phật Bửu Diệm, Phật Bửu Nguyệt, Phật Bửu Nghiêm, Phật Nan
Thắng, Phật Sư Tử Hướng, Phật Nhứt Thiết Lợi Thành, vô lượng chư Phật trong 10
phương, khi Thượng Nhân đây niệm đến liền hiện tới rộng nói tạng pháp bí yếu
của chư Phật, khi nói xong các Ngài đều trở về, đó là pháp “chưa từng có, khó
đặng” thứ bảy. – Nhà này tất cả cung điện tốt đẹp của chư Thiên và các cõi Tịnh
độ của chư Phật đều hiện ở trong đây, đó là pháp “chưa từng có, khó đặng” thứ
tám.
Thưa Ngài Xá Lợi Phất !
Nhà này thường hiện ra 8 pháp “chưa từng có, khó đặng” như thế, ai thấy được
việc không thể nghĩ bàn đó mà lại còn ham ưa pháp Thanh Văn ư ?
Ngài Xá Lợi Phất nói :
- Vì sao ngươi không chuyển thân nữ kia đi ?
Thiên nữ nói :
- Mười hai năm nay tìm kiếm mãi cái tướng nữ nhơn hẳn không thể đặng, phải
chuyển đổi cái gì ? Ví như nhà huyễn thuật hóa ra một người nữ huyễn, nếu có
người hỏi rằng : Sao không chuyển thân nữ đó đi ? Vậy người hỏi đó có đúng
chăng ?
Ngài Xá Lọi Phất nói
:
- Không đúng. Huyễn hóa không có tướng nhứt định còn phải chuyển đổi gì
nữa.
Thiên nữ nói :
- Tất cả pháp cũng như thế, không có tướng nhứt định, tại sao lại hỏi không
chuyển thân nữ ?
Tức thời Thiên nữ dùng
sức thần thông biến Ngài Xá Lợi Phất thành ra Thiên nữ, Thiên nữ lại tự hóa
mình giống như Ngài Xá Lợi Phất mà hỏi rắng : Tại sao Ngài không chuyển thân nữ
đi ?
Ngài Xá Lợi Phất mang
lấy hình tướng thân nữ mà đáp rằng :
- Ta nay không biết tại sao lại biến thành thân đàn bà này ?
Thiên nữ nói :
- Thưa Ngài Xá Lợi Phất ? Nếu Ngài chuyển được thân đàn bà đó, thời tất cả
người nữ cũng sẽ chuyển được. Như Ngài Xá Lợi Phất không phải người nữ mà hiện
thân nữ, thời tất cả người nữ cũng lại như thế, tuy là hiện thân nữ mà không
phải người nữ đâu. Vì thế, Phật nói : tất cả các pháp không phải đàn ông, không
phải đàn bà.
Bấy giờ Thiên nữ thu
nhiếp thần lực, thân Ngài Xá Lợi Phất trở lại như cũ. Thiên nữ hỏi Ngài Xá Lợi
Phất:
- Tướng đàn bà bây giờ ở đâu ?
Ngài Xá Lợi Phất đáp
:
- Tướng đàn bà không ở đâu, mà ở tất cả.
Thiên nữ nói :
- Tất cả pháp lại cũng như thế, không ở đâu mà ở tất cả. Vả lại không ở đâu mà
ở tất cả là lời Phật nói.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi
Thiên nữ :
- Nàng ở nơi đây chết rồi sẽ sanh nơi đâu ?
Thiên nữ đáp :
- Phật hóa sanh thế nào, tôi cũng hóa sanh thế ấy.
Ngài Xá Lợi Phất nói
:
- Phật hóa sanh không phải chết rồi mới sanh.
Thiên nữ nói :
- Chúng sanh cũng thế, không phải chết rồi mới sanh.
Ngài Xá Lợi Phất hỏi
Thiên nữ :
- Ngươi bao lâu sẽ chứng được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác ?
Thiên nữ đáp :
- Khi nào Ngải Xá Lợi Phất trở lại phàm phu, tôi sẽ được Vô Thượng Chánh Ðẳng
Chánh Giác.
Ngài Xá Lợi Phất nói
:
- Có khi nào ta trở lại phàm phu.
Thiên nữ nói :
- Có khi nào tôi lại được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vì sao? – Vì Bồ Ðề
không xứ sở nên không có được.
Ngài Xá Lợi Phất nói
:
- Hiện nay các Phật chứng Bồ Ðế vô thượng (A nậu đa la tam miệu tam bồ đề), các
Phật đã chứng, sẽ chứng nhiều như số cát sông Hằng thời gọi là gì ?
Thiên nữ đáp :
- Ðấy là theo số mục văn tự ở đời mà nói có 3 đời, chớ không phải nói Bồ Ðề có
quá khứ, vị lai và hiện tại.
- Thưa Ngài Xá Lợi Phất ! Ngài đặng đạo A la hán ư ?
Ðáp : Không có đặng mà
đặng.
Thiên nữ nói :
Các Phật, Bồ Tát cũng như thế, không đặng mà đặng.
Bấy giờ ông Duy Ma Cật
bảo ngài Xá Lợi Phất :
- Thiên nữ này đã từng cúng dường 92 ức Đức Phật, đã được thần thông du hý của
Bồ Tát, nguyện lực đầy đủ, chứng vô sanh nhẫn không có thối lui, vì theo bổn
nguyện nên tùy ý mà hiện ra để giáo hóa chúng sanh.
Chú thích của phẩm VII
1. Chúng sanh : Có ba
nghĩa :
1) Tất cả loài có sự sống đều gọi là chúng sanh, như các loài động vật và thực
vật, hữu tình và vô tình.
2) Chúng có nghĩa là rất nhiều ; Sanh nghĩa là sanh khởi : do năm ấm, các duyên
hòa hợp thành những vật có sự sống tương tục, gọi là chúng sanh.
3) Trải qua nhiều phen sống chết luân hồi trong cảnh giới các loài hữu
tình.
2. Ðại thứ năm : Là vật
không có. Chỉ có 4 đại : Ðịa, Thủy, Hỏa, Phong.
3. Ấm thứ sáu : Là vật
không có. Chỉ có 5 ấm : Sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
4. Tình thứ bảy : Là vật
không có, chỉ có sáu căn tình thức cảm giác là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
ý.
5. Nhập thứ 13 : Là vật
không có, chỉ có 12 nhập là 6 căn xung nhập 6 trần.
6. Giới thứ 19 : Là vật
không có. Chỉ có 18 giới là 6 căn nội giới, 6 trần ngoại giới và 6 thức trung
giới.
7. Sắc thân cõi Vô Sắc :
Là vật không có. Cõi Vô Sắc chỉ có 4 ấm : Thọ. tưởng, hành, thức về tâm pháp
hợp thành loài hữu tình nơi đó, không có hình chất như cõi Sắc giới và Dục
giới.
8. Thân kiến của Tu đà
hoàn : Là việc không có. Tu đà hoàn là quả thứ nhứt trong 4 quả Thánh của Thanh
Văn Tiểu thừa ; Tàu dịch là Dự lưu, nghĩa là dự vào giòng Thánh. Bực này đã phá
được kiến hoặc (sự thấy biết mê lầm) ở trong 3 cõi, nên không còn quan niệm
chấp thân là thật nữa.
9. Sự nhập thai của A na
hàm : Là việc không có. A na hàm là quả thứ ba của Thanh Văn. Tàu dịch là Bất
lai, nghĩa là bực này tu hành đã dứt hết chín phẩm tư hoặc (tư tưởng sai lầm) ở
Dục giới, nên không còn thọ sanh trở lại cõi Dục nữa.
10. Tam độc của A la hán
: Là việc không có. A la hán là quả thứ tư trong 4 quả Thanh Văn, Tàu dịch là
Vô sanh. Bực này đã dứt hết phiền não mê lầm trong 3 cõi, nên không còn 3 thứ
độc : Tham, Sân, Si nữa.
11. Hơi thở ra vào của
người nhập Diệt tận định : Là việc không có. Vì người nhập Diệt tận định đã dứt
hết hiện hành của 6 thức trước, nên không còn thở nữa.
12. Thạch nữ : Là người
nữ không có sanh con. Nói con của Thạch nữ là thí dụ cho việc không có, cũng
như nói lông rùa sừng thỏ.
13. Kiết sử : Các thứ
phiền não ràng buộc thân tâm kết thành quả khổ gọi là kiết; đeo đuổi xui dục
chúng sanh không ra khỏỉ sanh tử gọi là sử.
Kiết có 9 món :
1) Ái kiết : say đắm cảnh ngũ dục không rời.
2) Nhuế kiết : giận dữ bất bình đối với nghịch cảnh.
3) Mạn kiết : kiêu căng ngạo nghễ.
4) Vô minh kiết : ngu si mờ ám đối với lẽ chơn chánh.
5) Kiến kiết : tà kiến không tin nhơn quả.
6) Thủ kiết : vọng chấp sự hiểu biết không chơn chánh, và giới pháp sai
lầm, làm lắm điều ác.
7) Nghi kiết : dụ dự không tin chơn lý, không tu hành theo hạnh chơn lý, làm
nhiều điều không chơn chánh.
8) Tật kiết : ghen ghét những bậc hiền đức.
9) Xan kiết : keo sẻn không chịu bố thí, lại làm nhiều điều ác.
Chín điều này ràng buộc chúng sanh trong đường sanh tử, vì nó khiến chúng sanh
gây nhiều tội lỗi.
Sử có 10 món, tức là 5
món Ðộn sử và 5 Lợi sử.
5 món Ðộn sử : 1) Tham dục sử, 2) Sân nhuế sử, 3) Vô minh sử, 4) Mạn sử, 5)
Nghi sử.
5 món Lợi sử : 1) Thân
kiến sử, 2) Biên kiến sử, 3) Tà kiến sử, 4) Kiến thủ sử, 5) Giới thủ sử.
Ðộn sử do sự chấp đắm mà có. Lợi sử do sự nhận thức sai lầm mà có. Cả hai đều
gây nên phiền não xúi dục chúng sanh tạo nghiệp không ra khỏi ba cõi sanh
tử.
14. Không trụ : Là dịch
nghĩa của danh từ : “Vô trụ”. Các pháp toàn không có tự tánh, nên không có chỗ
trụ trước, chỉ tùy theo duyên mà sanh khởi, nên gọi là vô trụ. Do vô trụ không
có chỗ trụ trước, nên chẳng phải có, chẳng phải không; vì chẳng phải có, không,
nên mới làm được cái gốc cho hiện tượng có, không của vạn hữu. Theo ý Ngài Duệ
Công thì vô trụ tức là thật tướng, thật tướng tức là tánh không, chỉ là khác
tên mà thôi.
15. Kiết tập : Tập khí
phiền não kiết sử.
16. Kỳ cựu : Bực tuổi
tác lão thành.
17. Tăng thượng mạn : Tự
mình chứa đặng những pháp tăng thượng của bực thánh, chưa chứng quả thánh mà tự
xưng là đã đặng chứng, khởi lòng ngã mạn, nên gọi là tăng thượng mạn.
18. Ba thừa : Thanh Văn,
Duyên Giác, Bồ Tát.
19. Chiêm bặc : Tàu dịch
là Kim sắc hoa thọ, hay huỳnh hoa thọ : nghĩa là cây hoa sắc vàng, có mùi hương
bay rất xa.
KINH DUY-MA-CẬT
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
* * * * *
VIII. PHẨM PHẬT ÐẠO (1)
Bấy giờ Ngài văn Thù Sư
Lợi hỏi ông Duy Ma Cật rằng :
- Bồ Tát thế nào là thông đạt Phật đạo ?
- Bồ Tát thật hành phi đạo(2) (trái đạo) là thông đạt Phật đạo.
- Lại hỏi : Thế nào là Bồ Tát thật hành Phi đạo ?
- Nếu Bồ Tát gây năm tội vô gián(3) mà không buồn giận, đến ở trong địa ngục mà
không có tội cấu; đến trong loài súc sanh mà không có những lỗi vô minh kiêu
mạn; đến trong ngạ quỉ mà vẫn đầy đủ công đức; đến cảnh Sắc và Vô Sắc giới mà
không cho là thù thắng; hiện làm tham dục mà không nhiễm đắm; hiện làm giận dữ
mà đối với chúng sanh không có ngại gì; hiện cách ngu si mà dùng trí tuệ điều
phục tâm mình; hiện làm hạnh tham lam bỏn sẻn mà bỏ tất cả của cải, không tiếc
thân mạng; hiện phá giới cấm mà ở trong tịnh giới, đến như tội bé nhỏ cũng hết
lòng sợ sệt; hiện làm giận dũi mà thường từ bi, nhẫn nhục; hiện làm lười biếng
mà siêng tu các công đức; hiện làm loạn ý mà thường niệm định; hiện làm ngu si
mà thông đạt trí tuệ thế gian và xuất thế gian; hiện làm dua dối mà phương tiện
thuận theo nghĩa các kinh; hiện làm kiêu mạn mà đối với chúng sanh mình cũng
như cầu, đò(4); hiện làm tất cả phiền não mà lòng thường thanh tịnh; hiện vào
trong chúng ma mà thuận theo trí tuệ của Phật, không theo đạo giáo khác; hiện
làm hàng Thanh Văn mà nói các pháp chưa từng nghe cho chúng sanh; hiện vào hàng
Bích Chi Phật mà thành tựu lòng đại bi, giáo hóa chúng sanh; hiện vào hạng
nghèo nàn mà có tay đầy đủ của công đức; hiện vào hạng tàn tật mà đủ tướng tốt
để trang nghiêm thân mình; hiện vào hạng hèn hạ mà sanh trong giòng giống Phật,
đầy đủ các công đức; hiện vào hạng người ốm yếu xấu xa mà được thân Na-la-diên
(kim cang), tất cả chúng sanh đều muốn xem; hiện vào hạng già bịnh mà đoạn hẳn
gốc bịnh, không còn sợ chết; hiện làm hạng giàu có mà xem là vô thường, không
có tham đắm; hiện có thê thiếp, thế nữ mà tránh xa bùn lầy ngũ dục; hiện nơi
hạng đần độn mà thành tựu biện tài, vẫn giữ tổng trì; hiện vào tà tế(5) mà dùng
chánh tế độ chúng sanh; hiện vào khắp các đạo, để đoạn dứt nhơn duyên; hiện vào
Niết bàn mà không bỏ sanh tử. Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi ? Nếu Bồ Tát làm được
những việc trái đạo như thế, đấy là thông suốt Phật đạo.
Bấy giờ, ông Duy Ma Cật
hỏi Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng :
- Thế nào là hột giống Như Lai ?
Ngài Văn Thù Sư Lợi nói :
- Có thân là hột giống; vô minh có ái là giống; tham, sân, si là giống; 4 món
điên đảo(6) là giống; 5 món che ngăn là giống; 6 nhập là giống ; 7 chỗ thức(7)
là giống; 8 pháp tà(8) là giống; 9 món não(9) là giống; 10 điều bất thiện là
giống; nói tóm lại 62 món tà kiến và tất cả phiền não đều là giống Phật
cả.
Ông Duy Ma Cật hỏi
:
- Tại sao thế ?
- Nếu người thấy vô vi mà vào chánh vị (Niết bàn) thời không thể còn phát tâm
Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác nữa. Ví như chỗ gò cao không thể sinh hoa sen,
mà nơi bùn lầy thấp ướt mới có hoa sen. Như thế, người thấy vô vi, vào chánh vị
không còn sanh trong Phật pháp được, mà ở trong bùn lầy phiền não mới có chúng
sinh nghĩ đến Phật pháp mà thôi. Lại như gieo hột giống trên hư không thì không
sinh được, ở đất phân bùn mới tốt tươi được. Như thế, người đã vào vô vi chánh
vị không sanh được trong Phật pháp, kẻ khởi ngã kiến như núi Tu Di còn có Thể
phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác mà sinh trong Phật pháp. Cho nên phải
biết tất cả phiền não là giống Như Lai. Ví như không xuống bể cả, không thể
đặng bảo châu vô giá, cũng như không vào biển cả phiền não thời làm sao mà có
ngọc báu “nhứt thiết trí”.
Lúc bấy giờ Ngài Ðại Ca
Diếp khen rằng :
- Hay thay ! Hay thay ! Ngài Văn Thù Sư Lợi, lời nói thích quá. Thật đúng như
lời Ngài nói những bọn trần lao là giống Như Lai. Hôm nay, chúng tôi không còn
kham phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ðến như người đủ 5 tội vô gián
còn có thể phát ý mong sanh trong Phật pháp, mà nay chúng tôi hoàn toàn không
phát được. Ví như những người 5 căn(10) đã hư, đối với 5 món dục lạc chẳng còn
cảm xúc. Cũng như hàng Thanh Văn đã đoạn hết kiết sử, ở trong Phật pháp không
còn có lợi ích gì mấy, bởi không còn có chí nguyện.
Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi
! Vì thế nên phàm phu ở trong Phật pháp còn có ảnh hưởng, mà hàng Thanh Văn
thời không. Vì sao ? Vì phàm phu nghe Phật nói pháp khởi được đạo tâm vô
thượng, chẳng đoạn Tam bảo, còn chính như Thanh Văn trọn đời nghe Phật pháp :
10 lực, 4 món vô úy v.v. . . mà hoàn toàn cũng không phát được đạo tâm vô
thượng.
Trong chúng hội có Bồ
Tát tên Phổ Hiện Sắc Thân hỏi ông Duy Ma Cật rằng :
- Cư sĩ ! Cha mẹ , vợ con, thân bằng quyến thuộc, những người tri thức là ai ?
Tôi tớ, trai bạn, voi ngựa, xe cộ ở đâu ?
Ông Duy Ma Cật dùng bài
kệ đáp rằng :
Trí độ(11) mẹ Bồ
Tát,
Phương tiện ấy là cha,
Ðạo sư tất cả chúng,
Ðều do đấy sanh ra.
Pháp hỷ(12) Chính là vợ,
Tâm từ bi là gái,
Tâm thành thực là trai,
Rốt ráo vắng lặng : nhà.
Trần lao(13) là đệ tử,
Tùy ý mà sai sử,
Ðạo phẩm (14) vốn bạn lành .
Do đấy thành chánh giác.
Các độ(15) là pháp lữ,
Tứ nhiếp là kỹ nữ.
Ca ngâm tụng lời pháp,
Lấy đó làm âm nhạc,
Vườn tược ấy tổng trì(16),
Cây rừng, pháp vô lậu,
Hoa, giác ý(17) sạch mầu,
Trái, giải thoát trí tuệ.
Bát giải (thoát)(18) là ao tắm,
Nước định lặng trong đầy,
Rải bảy thứ tịnh hoa(19),
Ðể tắm người không nhơ.
Ngũ thông (20), voi, ngựa chạy,
Ðại thừa là xe cộ,
Cầm cương là nhất tâm,
Dạo chơi đường bát chánh(21).
Tướng đủ nghiêm mặt mày,
Các tốt trau hình dáng,
Hổ thẹn làm thượng phục(22),
Thâm tâm làm tràng hoa.
Giàu có bảy của báu(23)
Dạy bảo để thêm lợi,
Như lời nói tu hành,
Hồi hướng làm lợi lớn.
Tứ thiền làm giường ghế,
Từ tịnh mạng sanh ra,
Học rộng thêm trí tuệ,
Ðó là tiếng tự giác.
Món ăn : pháp cam lồ,
Nước uống : vị giải thoát,
Tắm rửa sạch tịnh tâm,
Hương thoa là giới phẩm.
Trừ dẹp giặc phiền não,
Mạnh mẽ không ai hơn,
Hàng phục bốn thứ ma(24)
Phướng tốt dựng đạo tràng.
Tuy biết không sanh diệt,
Vì dạy chúng, có sanh,
Khắp hiện vào các cõi,
Như mặt nhựt, đều thấy.
Cúng dường khắp mười phương,
Không lường ức Như Lai,
Chư Phật và thân mình,
Không có tưởng phân biệt.
Dầu biết các cõi Phật,
Với chúng sanh đều không,
Mà thường tu Tịnh độ,
Dạy dỗ cho quần sanh.
Bao nhiêu loài hữu tình,
Oai nghi cùng hình, tiếng,
Bồ Tát lực, vô úy,
Ðồng thời đều khắp hiện.
Rõ biết các việc ma,
Mà hiện theo hạnh nó.
Dùng trí phương tiện khéo,
Tùy ý đều hay hiện,
Hoặc hiện già, bịnh, chết,
Thành tựu cho chúng sanh.
Rõ biết như huyễn hóa,
Thông suốt không ngăn ngại.
Hoặc hiện kiếp cháy tan,
Ðại địa đều trống rỗng,
Những người có tưởng “thường”,
Soi thấy rõ vô thường.
Vô số ức chúng sanh,
Ðều đến thỉnh Bồ Tát,
Ðồng thời đến nhà kia,
Dạy cho về Phật đạo.
Kinh sách, cấm, chú thuật.
Các nghề nghiệp khéo léo,
Ðều hiện làm việc ấy,
Lợi ích cho quần sanh.
Các đạo pháp thế gian,
Nương đấy mà xuất gia,
Ðể giải mê cho người,
Mà chẳng đọa tà kiến
Làm Nhựt, Nguyệt thiên tử,
Làm Phạm Vương, chủ, chúa,
Hoặc khi làm đất nước,
Hoặc lại làm gió lửa.
Vào kiếp có tật dịch,
Hiện làm các cây thuốc,
Nếu người nào uống đến,
Các bịnh ác tiêu trừ.
Vào kiếp có đói khát,
Hiện làm đồ uống ăn,
Trước là cứu đói khát,
Sau giảng dạy chính pháp.
Vào kiếp có đao binh,
Duyên khởi lòng từ bi,
Giáo hóa cho chúng sanh,
Tâm đừng còn tranh đấu.
Nếu có chiến trận lớn,
Làm cho sức ngang nhau,
Bồ Tát hiện oai thể,
Hàng phục để yên hòa.
Trong tất cả cõi nước,
Chỗ nào có địa ngục,
Ði ngay đến nơi đấy,
Cứu vớt người khổ não.
Trong tất cả cõi nước,
Súc sanh ăn lẫn nhau,
Ðều hiện sanh ra nó,
Làm cho được lợi ích.
Thị hiện trong ngũ dục,
Lại cũng hiện tu thiền,
Ðể tâm ma rối loạn,
Không thừa dịp hại đặng.
Hoa sen sanh trong lửa,
Thật đáng gọi ít có,
Cõi Dục mà tu thiền,
Ít có cũng như thế.
Hoặc hiện làm dâm nữ,
Dắt dẫn kẻ háo sắc,
Trước lấy dục dụ người,
Sau khiến vào trí Phật.
Hoặc làm chủ trong ấp,
Hoặc làm thầy khách buôn,
Quốc sư và Ðại thần,
Ðể lợi ích chúng sanh.
Các chỗ có kẻ nghèo,
Hiện làm kho vô tận,
Nhân đó khuyến dạy người,
Cho phát tâm vô thượng.
Kẻ kiêu căng ngã mạn,
Hiện làm những lực sĩ,
Tiêu phục lòng cống cao,
Quay về đạo Vô thượng.
Những người hay sợ sệt,
Ðến nơi để an ủi,
Trước thí pháp “không sợ”,
Sau dạy phát đạo tâm.
Hoặc hiện lìa dâm dục,
Làm vị tiên ngũ thông,
Chỉ dạy cho chúng sanh,
Ðể được giới, nhẫn, từ.
Thấy người cần hầu hạ,
Hiện làm kẻ tôi tớ,
Vừa đẹp ý người kia,
Vừa phát được đạo tâm.
Tùy theo việc cần dùng,
Mà vào trong Phật đạo,
Dùng sức phương tiện khéo,
Ðều giúp cho đầy đủ.
Ðạo pháp nhiều không lường,
Việc làm không bờ mé,
Trí tuệ không hạng lượng,
Ðộ thoát vô số chúng.
Dầu cho tất cả Phật,
Trong vô số ức kiếp,
Khen ngợi công đức kia,
Cũng không thể hết được.
Ai nghe pháp như thế,
Chẳng phát tâm Bồ Ðề,
Trừ những người bất tiếu,
Ngu si không trí tuệ.
Chú thích của phẩm VIII
1. Phật đạo : Tiếng Phạn
là Phật đà Bồ đề, nghĩa là đạo giác ngộ như thật. Lại chỉ tất cả cáe điều phước
huệ thanh tịnh thuần thiện của Phật đã thành tựu viên mãn, đều gọi là Phật
đạo.
2. Phi đạo : Chẳng phải
Phật đạo, nghĩa là những phiền não tạp nhiễm, tập nghiệp của tất cả chúng sanh
trong ba cõi, ba đời và đạo pháp của Nhị thừa đều chẳng phải Phật đạo. Nhưng
nếu thông đạt Phật đạo thì phi đạo toàn là Phật đạo. Tỷ như thật hành các việc
trong đời, mà không sa mắc vào đời, cho đến thật hành hiện nhập Niết Bàn của
Nhị thừa, mà chẳng dứt sự sanh tử, độ sanh. Ðó là ở nơi phi đạo mà tự tại siêu
xuất phi đạo, nên tức nơi phi đạo mà thông đạt Phật đạo.
3. Năm tội vô gián : 1)
Giết cha, 2) Giết mẹ, 3) Giết A La Hán, 4) Phá hòa hiệp của chúng Tăng, 5) Làm
cho thân Phật ra máu. Người tạo ra năm tội này, phải đọa vào đia ngục Vô gián
(A tỳ), chịu các sự khổ bức, không khi nào hở dứt, nên gọi là Vô gián.
4. Như cầu, đò : ý nói
rất khiêm nhượng hạ mình, nghĩa là dù bị ngườl đời lấn lướt khinh khi, nhưng
vẫn nhẫn chịu không khinh mạn lại, cũng như cầu đò cứ chịu họ dày đạp qua
lại.
5. Tà tế, Chánh tế :
Ngoại đạo gọi là tà tế, ví như chỗ hiểm nạn dối gạt người. Phật đạo gọi là
chánh tế, ví như chỗ bến đò có thể đưa người qua được.
6. Bốn món điên đảo
:
1) Sự vật trong thế gian là vô thường mà chấp là thường,
2) Ngũ dục lạc, không phải vui mà chấp là vui,
3) Thân này không phải ta mà chấp là ta,
4) Thân này nhơ nhớp mà chấp là sạch.
Ðây là 4 món chấp của phàm phu.
7. Bảy chỗ thức :
1) Sơ thiền,
2) Nhị thiền,
3) Tam thiền,
4) Tứ thiền.
5) Vô biên xứ thiền,
6) Thức biên xứ thiền,
7) Vô sở hữu xứ thiền,
là bảy cảnh giới không có thống khổ bức não, thần thức được an trú. Trừ cõi Vô
tưởng và cõi Phi phi tưởng không kể, là vì cõi này tâm tưởng quá vi tế, muội
lược, tư niệm không rõ ràng.
8. Tám pháp tà : Ðã giải
ở phẩm III số 14.
9. Chín món não :
Về quá khứ ai quấy nhiễu mình, quấy nhiễu thân thích mình, thì sanh não, ai
khen ngợi kẻ oán của mình, mình cũng sanh não. Quá khứ như thế thì hiện tại và
vị lai cũng thế, nên gọi là chín chỗ não.
10. Năm căn : Mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân.
11. Trí độ :
Một độ trong 6 độ, nghĩa là trí tuệ viên mãn hay vượt qua biển sanh tử đến bờ
Niết bàn rốt ráo.
12. Pháp hỷ : Nghe pháp
lãnh hội được, sanh lòng vui mừng gọi là pháp hỷ.
13. Trần lao : Trần là
nhiễm ô, nghĩa là các thứ tà kiến phiền não hay làm nhiễm ô chơn tánh. Lao là
nhọc nhằn, nghĩa là các tà kiến phiền não làm cho chúng sanh trôi lăn mệt nhọc
trong đường sanh tử.
14. Ðạo phẩm : Tức
phương pháp giúp người tu hành, thành tựu đạo quả Bồ đề, như 37 phẩm trợ đạo v
v
15. Các độ : 6 độ, 10
độ.
16. Tổng trì : Gồm nhiếp
các pháp.
17. Giác ý : ý niệm giác
sát cho tâm điều hòa thích trung, không cao không thấp, không phóng tán, không
hôn trầm.
18. Bát giải : Tức Bát
giải thoát đã giải ở phẩm III số 14.
19. Bảy thứ tịnh hoa
:
1) Giới tịnh : động tác của thân, khẩu ý thanh tịnh;
2) Tâm tịnh : tâm thanh tịnh không còn nhiễm trước;
3) Kiến tịnh : thấy được chơn tánh các pháp không còn khởi vọng chấp;
4) Ðộ nghi tịnh : Hiểu biết thấu đáo không còn ngờ vực;
5) Phân biệt đạo tịnh : Phân biệt rõ ràng tà đạo, chánh đạo;
6) Hành đoạn tri kiến tịnh : Tri kiến thật, hành thiện pháp, các ác pháp bị
đoạn trừ, được thanh tịnh sáng suốt;
7) Niết Bàn tịnh : Chứng được Niết Bàn xa lìa mọi cấu nhiễm.
20. Ngũ thông : Lục
thông trừ Lậu tận thông. Ðã giải nơi phẩm II số 24.
21. Bát chánh : Giải ở
phẩm II số 26 trong mục 37 phẩm trợ đạo phần sau.
22. Thượng phục : Ðồ y
phục quí đẹp. Ðoạn này, ý nól lấy sự hổ thẹn để ngăn ngừa lỗi quấy, cũng như đồ
y phục che được gió lạnh vậy.
23. Bảy của báu :
1) Tín, 2) Giới, 3) Văn, 4)Xả, 5)Tuệ, 6) Tàm, 7) Quý.
Do tin pháp lành nên mới giữ giới. Do giữ giới thì ngăn được các việc ác, việc
ác đã dứt, việc lành mới tinh tấn làm thêm. Nhưng tinh tấn làm việc lành cốt do
sự học rộng nghe nhiều. Có nghe nhiều đạo pháp, thì tâm niệm mới xả bỏ không
còn chấp trước: Do xả bỏ nên trí tuệ phát sanh. Còn tàm và quý cũng như hai
người phụ lực để thành tựu 5 pháp trên.
24. Bốn thứ ma :
1) Phiền não ma : tham. sân, si v .v. . . hay làm não hại thân tâm.
2) Ấm ma : sắc, thọ, tưởng, hành, thức, 5 ấm đó thường sanh các thứ khổ
não.
3) Tử ma : chết hay đoạn tuyệt mạng căn của người.
4) Thiên ma : Ma Vương ở trên từng trời Tha hóa tự tại thứ 6 của Dục giới, hay
làm hại mất việc phúc thiện của người đời.
|
|
KINH DUY-MA-CẬT
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
* * * * *
IX. PHẨM VÀO “PHÁP
MÔN KHÔNG HAI” (1)
Bấy giờ ông Duy Ma
Cật bảo các vị Bồ Tát rằng :
- Các Nhân giả ! Thế nào là Bồ Tát vào “pháp môn không hai” ? Cứ theo chỗ
thích của mình mà nói.
Trong Pháp hội có Bồ
Tát tên là Pháp Tự Tại nói :
- Các Nhân giả ! “Sanh”, “diệt” là hai. Pháp vốn không sanh, cũng không
diệt, đặng vô sanh pháp nhẫn, đó là vào “pháp môn không hai”.
Bồ Tát Ðức Thủ nói
:
- “Ngã”, “ngã sở” là hai. Nhân có ngã mới có ngã sở, nếu không có ngã thời
không có ngã sở đó là vào pháp môn không hai.
Bồ Tát Bất Thuấn nói
:
- “Thọ”, “không thọ”(2) là hai. Nếu các pháp không thọ thời không có
“được”, vì không có “được”, nên không thủ xả, không gây không làm đó là vào
pháp môn không hai.
Bồ Tát Ðức Ðảnh nói
:
- “Nhơ”, “sạch” là hai. Thấy được tánh chơn thật của nhơ, thời không có
tướng sạch, thuận theo tướng diệt, đó là vào pháp môn không hai.
Bồ Tát Thiện Túc nói
:
- “Ðộng”, “niệm” là hai. Không động thời không niệm, không niệm thời không
phân biệt; thông suốt lý ấy là vào pháp môn không hai.
Bồ Tát Thiện Nhãn
nói :
- “Một tướng”, “Không tướng”(3) là hai. Nếu biết một tướng tức là không
tướng, cũng không chấp không tướng mà vào bình đẳng, đó là vào pháp môn không
hai.
Bồ Tát Diệu Tý nói
:
- Tâm Bồ Tát, tâm Thanh Văn là hai. Quán tướng của tâm vốn không, như huyễn
như hóa, thời không có tâm Bồ Tát, không có tâm Thanh Văn, đó là vào pháp
môn không hai.
Bồ Tát Phất Sa nói
:
- “Thiện”, “bất thiện” là hai. Nếu không khởi thiện và bất thiện, vào gốc
không tướng mà thông suốt được, đó là vào pháp môn không hai.
Bồ Tát Sư Tử nói
:
- “Tội”, “phước” là hai. Nếu thông đạt được tánh của tội, thì tội cùng
phước không khác, dùng tuệ kim cang quyết liễu tướng ấy, không buộc không
mở, đó là vào pháp môn không hai.
Bồ Tát Sư Tử Ý nói
:
-“Hữu lậu”, “vô lậu” là hai. Nếu chứng được các pháp bình đẳng thời
không có tướng hữu lậu và vô lậu, không chấp có tướng cũng không chấp vô
tướng, đó là vào phảp môn không hai.
Bồ Tát Tịnh Giải nói
:
- “Hữu vi”, “vô vi” là hai. Nếu lìa tất cả số thời tâm như hư không, dùng
tuệ thanh tịnh không có chướng ngại, đó là vào pháp môn không hai.
Bồ Tát Na La Diên
nói :
- “Thế gian”, “xuất thế gian” là hai. Tánh thế gian không tức là xuất thế
gian, trong đó không vào không ra, không đầy không vơi, đó là vào pháp môn
không hai.
Bồ Tát Thiện ý nói
:
- “Sanh tử”, “Niết bàn” là hai. Nếu thấy được tánh sanh tử thời không có
sanh tử, không buộc không mở, không sinh không diệt, hiểu như thế đó là vào
pháp môn không hai.
Bồ Tát Hiện Kiến nói
:
- “Tận”, “không tận” là hai. Pháp đến chỗ rốt ráo thời tận hoặc không tận
đều là tướng “vô tận”. Tướng “vô tận” tức là không, không thời không có
tướng tận và không tận, được như thế đó là vào pháp môn không hai.
Bồ Tát Phổ Thủ nói
:
- “Ngã”, “vô ngã” là hai. “Ngã” còn không có, thời “phi ngã” đâu có được.
Thấy được thật tánh của ngã không còn có hai tướng, đó là vào pháp môn
không hai.
Bồ Tát Ðiển Thiên
nói :
- “Minh”, “vô minh” là hai. Thật tánh vô minh tức là minh, minh cũng không
thể nhận lấy, lìa tất cả số, ở đó bình đẳng không hai, đó là vào pháp môn
không hai.
Bồ Tát Hỷ Kiến nói
:
- “Sắc”, “Không” là hai. Sắc tức là không, chẳng phải sắc diệt rồi mới
không, tánh sắc tự không ; thọ, tưởng, hành, thức cũng thế. Thức và không
là hai. Thức tức là không, chẳng phải thức diệt rồi mới không, tánh thức tự
không. Thông hiểu lý đó là vào pháp môn không hai.
Bồ Tát Minh Tướng
nói :
- “Tứ đại” khác (4) “không đại” khác là hai. Tánh tứ dại tức là tánh không
đại, như lớp trước lớp sau không, thời lớp giữa cũng không. Nếu biết được
thật tánh các đại thời đó là vào pháp môn không hai.
Bồ Tát Diệu Ý nói
:
- “Con mắt”, “sắc trần” là hai. Nếu biết được tánh của mắt thời đối với sắc
không tham, không sân, không si, tức là tịch diệt. Tai với tiếng, mũi với
hương, lưỡi với vị, thân với xúc, ý với pháp cũng là hai. Nếu biết được
tánh của ý thời đối với pháp không tham, không sân, không si tức là tịch
diệt. Nhận như thế đó là vào pháp môn không hai.
Bồ Tát Vô Tận Ý nói
:
- “Bố thí”, “hồi hướng nhứt thiết trí” là hai. Tánh bố thí tức là tánh hồi
hướng nhứt thiết trí. Trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền đinh, trí tuệ,
hồi hướng nhứt thiết trí cũng là hai. Tánh trí tuệ tức là tánh hồi hướng
nhứt thiết trí, ở trong đó vào “một tướng” là vào pháp môn không hai.
Bồ Tát Thâm Tuệ nói
:
- “Không”, “vô tướng”, “vô tác” là hai. Không tức là vô tướng, vô tướng tức
là vô tãc. Nếu không vô tướng, vô tác thời không có tâm, ý thức. Một món
giải thoát là ba món giải thoát, đó là vào pháp môn không hai.
Bồ Tát Tịch Căn nói
:
- “Phật”, “Pháp”, “Chúng” (Tăng) là hai. Phật tức là Pháp, Pháp tức là
Chúng. Ba ngôi báu ấy đều là tướng vô vi, cũng như hư không. Tất cả pháp
cũng vậy, theo được hạnh ấy là vào pháp môn không hai.
Bồ Tát Tâm Vô Ngại
nói :
- “Thân”. “thân diệt” là hai. Thân tức là thân diệt. Vì sao ? Thấy thật
tướng của thân thời không thấy thân và thân diệt. Thân và thân diệt không
hai, không khác, theo đó chẳng kinh chẳng sợ là vào pháp môn không
hai.
Bồ Tát Thượng Thiện
nói :
- “Thân thiện”, “khẩu thiện”, “ý thiện” là hai. Ba nghiệp này là tướng “vô
tác”. Tướng vô tác của thân tức là tướng vô tác của khẩu, tướng vô tác của
khẩu tức là tướng vô tác của ý. Tướng vô tác của ba nghiệp này tức là tướng
vô tác của tất cả pháp. Tùy thuận trí tuệ vô tác như thế là vào pháp môn
không hai.
Bồ Tát Phước Ðiền
nói :
- Làm phước (5) làm tội (6), làm bất động là hai. Thật tánh của ba việc làm
tức là “không”, “không” thời không làm phước, không làm tội, không làm bất
động. Ở ba việc làm này mà không khởi là vào pháp môn không hai.
Bồ Tát Hoa Nghiêm
nói :
- Do “ngã” mà khởi ra hai là hai. Thấy được thật tướng của “ngã”, thời
không khởi ra hai pháp. Nếu không trụ hai pháp thời không có “thức”. Không
có thức là vào pháp môn không hai.
Bồ Tát Ðức Tạng nói
:
- Có tướng “sở đắc” là hai. Nếu không có sở đắc thời không có lấy bỏ. Không
lấy bỏ là vào pháp môn không hai.
Bồ Tát Nguyệt Thượng
nói :
- “Tối”, “sáng” là hai. Không tối, không sáng thời không có hai. Vì sao?
Như vào định diệt thọ tưởng thời không có tối, không có sáng. Tất cả pháp
tướng cũng như thế ; bình đẳng vào chỗ ấy là vào pháp môn không hai.
Bồ Tát Bảo ấn Thủ
nói :
- Ưa Niết bàn, không ưa thế gian là hai. Nếu không ưa Niết bàn, không chán
thế gian thời không có hai. Vì sao ? Nếu có buộc thời có mở, nếu không buộc
thì nào có cầu mở. Không buộc, không mở, thời không ưa, không chán, đó là
vào pháp môn không hai.
Bồ Tát Châu Ðảnh
Vương nói :
- “Chánh đạo”, “tà đạo” là hai, ở chánh đạo thời không phân biệt thế nào là
Tà, thế nào là Chánh, lìa hai môn phân biệt đó là vào Pháp môn không
hai.
Bồ Tát Nhạo Thật nói
:
- “Thực”, “Không thực” là hai. Thực thấy còn không thấy thực, huống là
không thực thấy. Vì sao ? Không phải mắt thịt mà thấy được, chỉ có mắt tuệ
mới thấy được. Nhưng mắt tuệ không có thấy mà chỗ nào cũng thấy cả, đó là
vào pháp môn không hai.
Các Bồ Tát nói như
thế rồi, hỏi Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng :
- Thế nào là Bồ Tát vào pháp môn không hai ?
Ngài Văn Thù Sư Lợì
nói :
- Như ý tôi đối với tất cả pháp không nói, không rằng, không chỉ, không
biết, xa lìa các vấn đáp, đó là vào pháp môn không hai.
Khi đó Ngài Văn Thù
Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật rằng :
- Chúng tôi ai ai cũng nói rồi, đến lượt Nhân giả nói thế nào là Bồ Tát vào
pháp môn không hai ?
Ông Duy Ma Cật im
lặng không nói. Ngài Văn Thù Sư Lợi khen rằng: “Hay thay ! Hay thay ! Cho
đến không có văn tự ngữ ngôn, đó mới thật là vào pháp môn không hai.
Khi nói phẩm vào
Pháp Môn Không Hai này, trong chúng có năm nghìn Bồ Tát đều vào pháp môn
không hai, chứng Vô sanh Pháp nhẫn.
Chú thích của phẩm
IX
1. Pháp môn không hai : “Không hai” là lý thể chơn thật duy nhứt, ly tướng
vắng lặng như như bĩnh đẳng, không có kia, đây, sai khác. Pháp môn : là
pháp tắc khuôn mẫu của Phật đạo, các bực Hiền Thánh đều nương theo đó mà
nhập đạo. Bồ tát ngộ vào lý nhứt thật bình đẳng, gọi là vào “pháp môn không
hai”.
2. Thọ, không thọ :
Thọ là có xúc đối lãnh thọ chấp tướng thuộc hữu lậu. Không thọ là không
lãnh thọ chấp tướng thuộc vô lậu.
3. Một tướng, không tướng : Một tướng là đối với 2, 3 mà nói. Hai, ba, là
những cái sai khác, một là nghĩa không sai khác. Thật tướng của vũ trụ là
một chứ không hai; sở dĩ nói “một” cũng chỉ là mượn mà nói, chứ thật “một”
ấy cũng là tuyệt đối, là không, nên cũng tức là không tướng. Nhưng nếu nghe
nói “một” nói “không” mà không biết là lời nói để phá chấp hai, chấp có,
trở lại chấp có một tướng cũng thành ra hai vậy.
4. Tứ đại khác : Tức
là bốn đại : Ðịa, Thủy, Hỏa, Phong khác với hư không, vì 4 đại có chất
ngại, hư không không chất ngại nên khác nhau.
5. Làm phước : Làm
những công hạnh phước thiện trong cõi dục.
6. Làm tội : Làm 10
nghiệp chắng lành. Thân có ba nghiệp chẳng lành : Sát sanh, trộm cắp, tà
dâm ; Miệng có 4 : Nói dối, nói thêu dệt, nói lời chia rẽ, nói lời thô ác ;
ý có 3 : Tham lam bỏn sẻn, hờn giận ganh ghét, si mê tà kiến.
7. Làm bất động : Tu
những hạnh nghiệp thiền định theo cõi trời Sắc và Vô Sắc giới.
|
|
|
|
KINH DUY-MA-CẬT
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
* * * * *
X. PHẨM PHẬT HƯƠNG TÍCH
Ông Xá Lợi Phất tâm
nghĩ rằng : “Giờ ăn gần đến, các Bồ Tát đây sẽ thọ thực nơi đâu ?”.
Ông Duy Ma Cật biết
ý đó bảo ngay rằng :
- Phật nói 8 món giải thoát, Nhân giã đã vâng làm, đâu có xen cái tâm muốn
ăn mà nghe pháp ư ? Nếu muốn ăn, hãy đợi giây lát, tôi sẽ hiến Ngài bữa ăn
chưa từng có. Ông Duy Ma Cật liền nhập chánh định, dùng sức thần thông hiện
bày cho đại chúng thấy rõ cảnh giới phương trên, qua khỏi 42 số cát sông
Hằng cõi Phật có nước tên là Chúng Hương, đức Phật hiệu là Hương Tích nay
vẫn hiện tại. Mùi hương ở nước ấy so với mùi hương của Trời, người và các
cõi Phật ở mười phương nó thơm hơn hết. Nước ấy không có tên Thanh Văn và
Bích Chi Phật, chỉ có chúng Ðại Bồ Tát thanh tịnh được Phật nói pháp cho
nghe. Nước ấy tất cả đều dùng chất hương làm lầu các hoa viên, đi kinh hành
trên đất hương, mùi hương của cơm lan khắp 10 phương vô lượng thế
giới.
Lúc đó Phật Hương
Tích cùng các Bồ Tát đang ngồi ăn, có các vị Thiên tử đồng tên là Hương
Nghiêm đều phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, cúng dường Phật và các
Bồ Tát. Cả đại chúng bên cõi (Ta bà) này đều thấy rõ tận mặt.
Khi ấy ông Duy Ma
Cật hỏi các Bồ Tát rằng :
- Thưa các Nhân giả, vị nào có thể đến thỉnh cơm của Phật kia được ?
Vì nương theo sức
oai thần của Văn Thù Sư Lợi mà các vị Bồ Tát thảy đều lặng thinh. Ông Duy
Ma Cật nói rằng :
- Các Nhân giả không hổ thẹn sao ?
Ngài Văn Thù Sư Lợi
nói :
- Theo như lời Phật nói : “Chớ nên khinh người chưa học”.
Khi đó ông Duy Ma
Cật ngồi yên một chỗ, trước chúng hội hóa ra một vị Bồ Tát tướng tốt rực
rỡ, oai đức thù thắng hơn cả đại chúng. Ông bảo vị Hóa Bồ Tát ấy rằng
:
- Ông hãy qua cảnh giới phương trên, khỏi 42 số cát sông Hằng cõi Phật, có
nước tên là Chúng Hương, Phật hiệu là Hương Tích và các Bồ Tát đang ngồi
ăn, ông qua đó y theo lời tôi mà thưa rằng : “Duy Ma Cật xin cúi đầu lễ
dưới chơn Thế Tôn, cung kính không cùng và thăm hỏi Thế Tôn hằng ngày khởi
cư ít bịnh, ít não, sức khỏe được an chăng? Nguyện được món cơm thừa của
Thế Tôn đem về cõi Ta bà làm việc Phật, để cho những người ưa pháp nhỏ được
pháp lớn và để cho tiếng tăm của Như Lai được khắp tất cả”.
Lúc đó Hóa Bồ Tát
liền ở trước hội bay lên phương trên, cả đại chúng đều thấy Hóa Bồ Tát ấy
đi đến nước Chúng Hương lễ dưới chơn Phật và nghe tiếng thưa rằng : “Duy Ma
Cật xin cúi đầu lễ dưới chơn Thế Tôn, cung kính không cùng và thăm hỏi Thế
Tôn hằng ngày khởi cư ít bịnh, ít não, sức khỏe được an chăng? Nguyện được
món cơm thừa của Thế Tôn đem về cõi Ta bà làm việc Phật, để cho những người
ưa pháp nhỏ được pháp lớn và để cho tiếng tăm của Như Lai được khắp tất
cả”.
Các Ðại Sĩ nước
Chúng Hương thấy vị Hóa Bồ Tát đều ngợi khen chưa từng có và nghĩ rằng :
“Thượng nhơn này từ đâu mà đến? Cõi Ta bà ở đâu? Sao gọi là ưa pháp
nhỏ. Liền đem việc ấy hỏi Phật”.
Phật bảo rằng
:
- Phương dưới, qua khỏi 42 số cát sông Hằng cõi Phật, có cõi nước tên là Ta
bà, Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni, nay hiện tại ở đời ác năm trược vì những
chúng sanh ưa pháp nhỏ mà diễn nói đạo giáo. Cõi Ta bà có Bồ Tát tên Duy Ma
Cật ở cảnh giới giải thoát bất khả tư nghị đang nói pháp cho các vị Bồ Tát,
nên sai vị Hóa Bồ Tát này đến khen ngợi danh hiệu Ta và tán thán cõi này để
làm cho các Bồ Tát kia được thêm nhiều công đức.
Các Bồ Tát nước
Chúng Hương thưa rằng :
- Vị đó như thế nào mà biến hiện ra vị Hóa Bồ Tát này có đức lực vô úy,
thần túc như thế ?
Phật nói :
- Thật lớn. Ông thường sai Hóa Bồ Tát đi đến khắp mười phương làm việc
Phật, lợi ích chúng sanh.
Khi đó Phật Hương
Tích lấy cái bát ở nước Chúng Hương đựng đầy cơm thơm trao cho Hóa Bồ Tát.
Bấy giờ chín trăm vạn Bồ Tát ở nước Chúng Hương đồng thanh thưa rằng
:
- Chúng con muốn đến cõi Ta bà để cúng dường Phật Thích Ca Mâu Ni và ra mắt
ông Duy Ma Cật cùng các hàng Bồ Tát.
Phật bảo :
- Ðược, nên đi. Nhưng phải giữ thân hương của các ông, chớ để cho chúng
sanh cõi kia sanh tâm mê đắm, và phải bỏ hình thể cũ của các ông, chớ để
những người cầu đạo Bồ Tát ở nuớc kia phải tự hổ thẹn. Các ông đến cõi Ta
bà chớ đem lòng khinh chê mà tâm có ngại. Vì sao ? Mười phương cõi nước đều
như hư không, Chư Phật vì muốn hóa dộ những người ưa pháp nhỏ nên không
hiện ra toàn cõi thanh tịnh.
Khi ấy, Hóa Bồ Tát
đã lãnh bát cơm rồi, cùng với chín trăm vạn Bồ Tát thừa oai thần của Phật
và thần lực của ông Duy Ma Cật đang ở nước Chúng Hương bỗng nhiên biến mất,
trong khoảnh khắc về đến nhà ông Duy Ma Cật.
Lúc ấy, ông Duy Ma
Cật hóa ra chín trăm vạn tòa sư tử trang nghiêm tốt đẹp như trước, các Bồ
Tát đều đến ngồi nơi tòa ấy. Hóa Bồ Tát liền đem cái bát đựng đầy cơm thơm
dâng lên cho ông Duy Ma Cật, mùi thơm xông khắp thành Tỳ Da Ly và cõi tam
thiên đại thiên thế giới.
Lúc đó trong thành
Tỳ Da Ly, các Bà la môn, cư sĩ nghe mùi hương này, thân tâm thư thới ngợi
khen chưa từng có. Khi ấy Trưởng giả chủ(1) Nguyệt Cái đem theo tám vạn bốn
nghìn người đi dến nhà ông Duy Ma Cật, thấy trong nhà các Bồ Tát rất đông
và những tòa sư tử cao rộng trang nghiêm ai nấy thảy đều vui mừng, đảnh lễ
các Bồ Tát và đại đệ tử rồi đứng qua một phía. Các vị thần ở đất, thần ở hư
không và các vị trời ở cõi Dục, cõi Sắc nghe mùi thơm này cùng đều đến nhà
ông Duy Ma Cật.
Bấy giờ ông Duy Ma
Cật bảo ông Xá Lợi Phất và các vị Ðại Thanh Văn rằng :
- Này các Nhân giả, dùng cơm vị cam lồ của Như Laì do đại bi huân tập, đừng
đem ý có hạn lượng mà ăn thời không tiêu được.
Có các Thanh Văn
khác nghĩ rằng : “Cơm này ít lắm mà đại chúng người nào cũng phải ăn
!”.
Hóa Bồ Tát nói
:
- Chớ đem trí hẹp đức nhỏ của Thanh Văn mà đo lường phúc tuệ vô lượng của
Như Lai. Bốn bể còn có thể cạn, chớ cơm này không khi nào hết. Dẫu cho tất
cả ngươi đều ăn mỗi vắt lớn như núi Tu di cho đến một kiếp cũng không hết
được. Vì sao ? – Vì là món ăn dư của đấng đầy đủ công đức, vô tận giới,
định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, không bao giờ hết được.
Khi đó, với bát cơm
ấy chúng hội đều no đủ mà cũng vẫn còn. Các Bồ Tát, Thanh Văn, Trời, người
ăn cơm đó rồi thân thể nhẹ nhàng vui vẻ ví như các Bồ Tát ở cõi nước Nhứt
thiết lạc trang nghiêm, và các lỗ chưn lông thoảng ra mùi hương bát ngát
cũng như mùi hương các cây ở nước Chúng Hương.
Bấy giờ ông Duy Ma
Cật hỏi các vị Bồ Tát ở nước Chúng Hương rằng:
- Phật Hưong Tích lấy chi để nói pháp ?
Các Bồ Tát kia đáp
:
- Phật cõi tôi không dùng văn tự để nói, chỉ dùng các mùi hương làm cho các
Trời, người được luật hạnh. Các Bồ Tát đều ngồi dưới cây hương, nghe mùi
hương mầu nhiệm ấy đều được tam muội Nhứt thiết đức tạng. Ðược tam muội ấy
đều được đầy đủ tất cả công đức của Bồ Tát.
Các Bồ Tát kia hỏi
ông Duy Ma Cật rằng :
- Còn Phật Thích Ca Mâu Ni lấy gì để nói pháp ?
Ông Duy Ma Cật nói
:
- Chúng sanh cõi này cang cường khó giáo hóa, cho nên Phật nói những lời
cang cường để điều phục họ. Nói đó là địa ngục; đó là súc sanh; đó là ngạ
quỉ; đó là chỗ nạn; đó là chỗ người ngu sanh; đó là thân làm việc tà; đó là
quả báo của thân làm việc tà; đó là miệng làm việc tà; đó là quả báo của
miệng làm việc tà; đó là ý làm việc tà, đó là quả báo của ý làm việc tà; đó
là sát sanh, đó là quả báo của sát sanh; đó là không cho mà lấy; đó là quả
báo của không cho mà lấy; đó là tà dâm, đó là quả báo của tà dâm; đó là
vọng ngữ, đó là quả báo của vọng ngữ; đó là hai lưỡi, đó là quả báo của hai
lưỡi; đó là lời nói ác, đó là quả báo của lời nói ác; đó là lời nói vô
nghĩa, đó là quả báo của lời nói vô nghĩa; đó là tham lam, ganh ghét, đó là
quả báo của tham lam, ganh ghét; đó là tức giận, đó là quả báo của tức
giận; đó là tà kiến, đó là quả báo của tà kiến; đó là bỏn sẻn, đó là quả
báo của bỏn sẻn; đó là phá giới, đó là quả báo của phá giới; đó là giận
hờn, đó là quả báo của giận hờn; đó là lười biếng, đó là quả báo của lười
biếng; đó là ý tán loạn, đó là quả báo của ý tán loạn; đó là ngu si, đó là
quả báo của ngu si; đó là kiết giới, đó là giữ giới, đó là phạm giới; đó là
nên làm, đó là không nên làm; đó là chướng ngại, đó là không chướng ngại;
đó là mắc tội, đó là khỏi tội; đó là tịnh, đó là nhơ; đó là hữu lậu, đó là
vô lậu; đó là tà đạo, đó là chánh đạo; đó là hữu vi, đó là vô vi; đó là thế
gian, đó là Niết bàn, vì những người khó giáo hóa lòng như khỉ vượn, nên
dùng bao nhiêu pháp để chế ngự lòng họ, mới có thể điều phục được. Ví như
voi, ngựa ngang trái không diễu phục được, phải thêm đánh đập dữ tợn cho
đến thấu xương rối mới điều phục được. Chúng sanh cang cường khó giáo hóa
cũng thế, nên phải dùng tất cả những lời khổ thiết mới có thể đưa họ vào
khuôn khổ (luật hạnh).
Các Bồ Tát nước
Chúng Hương kia nghe rồi nói rằng :
- Thật chưa từng có ! Như Phật Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn ẩn cái sức tự tại vô
lượng của Ngài mà dùng những phương pháp sở thích của người nghèo hèn để độ
thoát chúng sanh. Các Bồ Tát đây cũng chịu khổ sở, nhún nhường, dùng lòng
đại bi vô lượng để sanh vào cõi Phật này.
Ông Duy Ma Cật nói
:
- Bồ Tát ở cõi này đối với chúng sanh, lòng đại bi bền chắc thật đúng như
lời các Ngài đã ngợi khen. Mà Bồ Tát ở cõi này lợi ích cho chúng sanh trong
một đời còn hơn trăm nghìn kiếp tu hành ở cõi nước khác. Vì sao ? Vì cõi Ta
bà này có mười điều lành mà các Tịnh độ khác không có. Thế nào là mười ? 1)
Dùng bố thí để nhiếp độ kẻ nghèo nàn; 2) Dùng tịnh giới để nhiếp độ người
phá giới; 3) Dùng nhẫn nhục để nhiếp độ kẻ giận dữ; 4) Dùng tinh tấn để
nhiếp độ kẻ giải đãi; 5) Dùng thiền định để nhiếp độ kẻ loạn ý; 6) Dùng trí
tuệ để nhiếp độ kẻ ngu si; 7) Nói pháp trừ nạn để độ kẻ bị tám nạn; 8) Dùng
pháp đại thừa để độ kẻ ưa pháp tiểu thừa; 9) Dùng các pháp lành để cứu tế
người không đức; 10) Thường dùng tứ nhiếp để thành tựu chúng sanh.
Các Bồ Tát kia hỏi
:
- Bồ Tát phải thành tựu mấy pháp ở nơi cõi này làm không lầm lỗi, được sanh
về cõi Tịnh độ ?
Ông Duy Ma Cật đáp
:
- Bồ Tát thành tựu 8 pháp thời ở cõi này làm không lầm lỗi, được sanh về
cõi Tịnh độ – Tám pháp là gi ? 1.- Lợi ích chúng sanh mà không mong báo
đáp. 2.- Thay thế tất cả chúng sanh chịu mọi điều khổ não. 3.- Bao nhiêu
công đức mình làm đều ban cho tất cả chúng sanh. 4.- Lòng bình đẳng đối với
chúng sanh khiêm nhường không ngại, đối với Bồ Tát xem như Phật. 5.- Những
kinh chưa nghe, nghe không nghi. 6.- Không chống trái với hàng Thanh Văn.
7.- Thấy người được cúng dường cũng không tật đố, không khoe những lợi lộc
của mình, ở nơi đó mà điều phục tâm mình. 8.- Thường xét lỗi mình, không
nói đến lỗi của người, hằng nhứt tâm cầu các công đức.
Ông Duy Ma Cật và
Ngài Văn Thù Sư Lợi nói pháp này rồi, ở trong đại chúng có cả trăm nghìn
Trời, người đều phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, mười nghìn Bồ Tát
chứng đặng Vô sanh pháp nhẫn.
Chú thích của phẩm X
1. Trưởng giả chủ : Vị trưởng giả này được công chúng suy tôn làm chủ tể
quản trị trong nuớc. Theo ngài Tăng Triệu giải : vì ở thời kỳ đó trong nước
không có vua chúa, nên 500 vị trưởng giả kia mới suy tôn ông Nguyệt Cái làm
chủ trong nước, nên gọi là Trưởng giả chủ.
|
|
|
|
KINH DUY-MA-CẬT
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
* * * * *
XI. PHẨM HẠNH BỒ TÁT
Khi đó, Phật nói
pháp nơi vườn cây Am la, vườn ấy bỗng nhiên rộng rãi trang nghiêm, tất cả
đại chúng trong pháp hội đều trở thành sắc vàng.
Ông A Nan bạch Phật
:
- Bạch Thế Tôn ? Vì nhơn duyên gì mà có điềm lành này, vườn đây bỗng nhiên
rộng rãi trang nghiêm, tất cả chúng hội đều trở thành sắc vàng ?
Phật bảo :
- Này A Nan ! Ðây là Duy Ma Cật, Văn Thù Sư Lợi cùng cả đại chúng cung kính
vây quanh phát tâm muốn đến, nên trước hiện điềm lành này.
Lúc đó ông Duy Ma
Cật nói với Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng :
-Chúng ta nên cùng nhau đến ra mắt Phật để cho các Bồ Tát đảnh lễ cúng
dường Thế Tôn.
Ngài Văn Thù Sư Lợi
nói :
- Hay thay ! Nay chính là lúc nên đi.
Ông Duy Ma Cật dùng
sức thần thông đem cả đại chúng và các tòa sư tử để trên tay hữu đi đến chỗ
Phật. Khi đến rồi ông để xuống đất, cúi đầu lễ dưới chơn Phật, đi quanh
phía hữu bảy vòng, một lòng chấp tay đứng sang một bên. Các Bồ Tát kia liền
xuống toà đến cúi đầu lễ dưới chơn Phật, cũng đi quanh bảy vòng rồi đứng
sang một bên. Các Ðại đệ tử, Ðế Thích, Phạm Thiên, Tứ Thiên Vương cả thảy
cũng đều xuống tòa cúi đầu lễ dưới chơn Phật đứng qua một bên.
Bấy giờ Thế Tôn như
pháp an ủi hỏi thăm các Bồ Tát rồi, bảo ngồi lại chỗ cũ. Cả chúng đều vâng
lời dạy.
Khi chúng ngồi xong,
Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất rằng :
- Ông có thấy thần lực tự tại của Bồ Tát đại sĩ làm đó chăng ?
- Dạ con đã thấy.
- Ý ông nghĩ sao ?
- Bạch Thế Tôn ! Con thấy các việc làm ấy không thể nghĩ bàn, không phải
lấy ý mà tính được, không phải suy nghĩ mà lường được.
Ông A Nan bạch Phật
rằng :
- Bạch Thế Tôn ! Mùi hương con nghe đây từ xưa chưa từng có, đó là mùi
hương chi ?
Lúc đó ông Xá Lợi
Phất nói với ông A Nan rằng :
- Lổ chưn lông của chúng tôi cũng có mùi hương ấy !
Ông A Nan nói
:
- Mùi hương ấy ở đâu đến ?
Ông Xá Lợi Phất nói
:
- Ðấy là Trưởng giả Duy Ma Cật xin cơm thừa của Phật ở nước Chúng Hương đem
về ăn nơi nhà ông, nên tất cả lỗ chưn lông đều ra mùi hương như thế.
Ông A Nan hỏi ông
Duy Ma Cật rằng :
- Mùi hương đó còn được bao lâu ?
Ông Duy Ma Cật nói
:
- Ðến khi cơm đó tiêu.
- Cơm đó bao lâu mới tiêu ?
- Thế lực cơm đó đến bảy ngày mới tiêu - Lại nữa A Nan ! Những Thanh Văn
chưa vào chánh vị, ăn cơm đó đến khi vào chánh vị rồi mới tiêu. Ðã vào
chánh vị, ăn cơm đó đến khi tâm giải thoát rồi mới tiêu. Chưa phát tâm đại
thừa ăn cơm đó đến khi phát tâm Ðại thừa rồi mới tiêu, đã phát tâm Ðại thừa
ăn cơm đó khi đưọc Vô sanh nhẫn rồi mới tiêu. Ðã được Vô sanh nhẫn ăn cơm
đó đến khi Nhứt sanh bổ xứ(1) rồi mới tiêu. Ví như có món thuốc tên là thượng
vị, người uống vào trừ hết các độc trong thân rồi mới tiêu. Cơm này cũng
vậy, khi trừ hết tất cả độc phiền não rồi mới tiêu.
Ông A Nan bạch Phật
:
- Thật chưa từng có ! Bạch Thế Tôn ! Như món cơm thơm ấy có thể làm Phật sự
?
Phật nói :
- Ðúng thế, đúng thế ! A Nan ! Hoặc có cõi Phật lấy ánh sáng của Phật mà
làm Phật sự; có cõi lấy Bồ Tát mà làm Phật sự; có cõi lấy người của Phật
hóa ra mà làm Phật sự; có cõi lấy cây Bồ Ðề mà làm Phật sự; có cõi lấy y
phục ngọa cụ của Phật mà làm Phật sự; có cõi lấy cơm ăn mà làm Phật sự; có
cõi lấy vườn rừng, lâu đài nhà cửa làm Phật sự; có cõi lấy 32 tướng tốt, 80
vẻ đẹp mà làm Phật sự; có cõi lấy thân Phật mà làm Phật sự; có cõi lấy hư
không mà làm Phật sự; chúng sanh theo duyên đó mà vào luật nghi. Có cõi lấy
mộng, huyễn, bóng, vang, tượng trong gương, trăng dưới nước, ánh nắng dợn,
các thí dụ như thế mà làm Phật sự; có cõi lấy tiếng tăm, lời nói, văn tự mà
làm Phật sự; hoặc có cõi lấy Phật thanh tịnh vắng lặng, không nói không
rằng, không chỉ không biết, không tạo không tác mà làm Phật sự. Như thế A
Nan ! Những oai nghi tấn chỉ, các việc thi vi của chư Phật đều là Phật sự
cả.
A Nan ! Có bốn ma và
tám muôn bốn nghìn phiền não mà chúng sanh phải bị nhọc nhằn mỏi mệt. Chư
Phật lại dùng các pháp ấy mà làm Phật sự, đó gọi là vào pháp môn của tất cả
chư Phật. Bồ Tát vào môn này hoặc thấy tất cả cõi Phật nghiêm tịnh không
lấy làm mừng, không ham muốn, không cao hảnh; hoặc thấy tất cả cõi Phật bất
tịnh cũng không lo, không ngại, không bỏ qua, chỉ phải ở nơi Chư Phật sanh
tâm thanh tịnh, vui mừng cung kính khen ngợi chưa từng có. Chư Phật Như Lai
công đức bình đẳng, vì giáo hóa chúng sanh mà hiện ra các cõi Phật không
đồng.
A Nan ! Ông thấy cõi
nước của chư Phật, đất có bao nhiêu mà hư không không bao nhiêu ? Như thế,
thấy sắc thân chư Phật, thân có bao nhiêu mà trí tuệ không ngại thì không
có bao nhiêu ? A Nan ! Sắc thân chư Phật, oai tướng, chủng tánh, giới,
định, trí tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, lực, vô sở úy, các pháp bất
cộng, đại từ đại bi, giữ oai nghi, thọ mạng, nói pháp giáo hóa thành tựu
chúng sanh, nghiêm tịnh cõi Phật, đủ các pháp Phật, thảy đều đồng đẳng, cho
nên gọi là: “Tam Miệu Tam Phật Ðà”(2) gọi là “Ða Ðà A Dà Ðộ”(3) gọi là
“Phật Ðà”(4) – A Nan ! Nếu ta nói đủ nghĩa ba câu này, dầu suốt đời của ông
cũng không lãnh thọ hết được. Giả sử chúng sanh đầy dẫy trong cõi tam thiên
đại thiên thế giới như A Nan đa văn thứ nhứt, được niệm tổng trì, những
người đó suốt cả đời cũng không lãnh thọ được. Như thế A Nan ! Chư Phật Vô
Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác không có hạn lượng, trí tuệ biện tài không thể
nghĩ bàn.
A Nan bạch Phật rằng
:
- Dạ ! Con từ nay về sau không dám tự cho mình là đa văn nữa.
Phật bảo A Nan
:
- Chớ nên khởi tâm thối lui, vì sao ? – Ta nói ông đa văn hơn hết trong
hàng Thanh Văn chớ không phải nói với hàng Bồ Tát. Hãy thôi A Nan ! Người
có trí không nên so sánh với các hàng Bồ Tát. Biển sâu còn có thể dò được,
chớ thiền định, trí tuệ, tổng trì, biện tài, tất cả công đức của Bồ Tát
không thể đo lường được. A Nan ! Các ông hãy để riêng việc Bồ Tát ra. Duy
Ma Cật đây hiện bày sức thần thông trong một lúc mà tất cả hàng Thanh Văn,
Bích Chi Phật trải trăm nghìn kiếp tận lực biến hóa đều không làm được.
Bây giờ các Bồ Tát ở
nước Chúng Hương đến đó, chấp tay bạch Phật rằng :
- Bạch Thế Tôn ! Chúng con khi mới thấy cõi này, tâm tưởng cho là hạ liệt,
nay chúng con tự hối trách bỏ tâm ấy. Vì sao ? Phương tiện chư Phật không
thể nghĩ bàn, vì độ thoát chúng sanh nên theo chỗ nhu cầu như thế nào mà
hiện ra cõi Phật như thế ấy. Dạ, bạch Thế Tôn ! Xin Thế Tôn ban chút ít
pháp cho chúng con để trở về cõi kia được nhớ nghĩ đến Như Lai.
Phật bảo các Bồ Tát
rằng :
- Có pháp môn “tận, vô tận giải thoát” các ông nên học.
Sao gọi là “tận” ?
Nghĩa là pháp hữu vi.
Sao gọi là “vô tận”
? Nghĩa là pháp vô vi. Như Bồ Tát thời không tận hữu vi, không trụ vô
vi.
Sao gọi là “không
tận hữu vi” ? Nghĩa là không lìa đại từ, không bỏ đại bi, sâu phát tâm cầu
nhứt thiết trí mà không khinh bỏ, giáo hóa chúng sanh quyết không nhàm
chán; đối pháp tứ nhiếp thường nghĩ làm theo; giữ gìn chánh pháp không tiếc
thân mạng; làm các việc lành không hề nhàm mõi; chí thường để nơi phương
tiện hồi hướng; cầu pháp không biếng trễ; nói pháp không lẫn tiếc; siêng
cúng dường chư Phật; cố vào trong sanh tử mà không sợ sệt; đối việc vinh
nhục lòng không lo không mừng; không khinh người chưa học; kỉnh người học
như Phật; người bị phiền não làm cho phát niệm chánh; cái vui xa lìa không
cho là quí; không đắm việc vui của mình mà mừng việc vui của người; ở trong
thiền định tưởng như địa ngục; ở trong sanh tử tưởng như vườn nhà; thấy
người đến cầu pháp tưởng như thầy lành; bỏ tất cả vật sở hữu tưởng đủ nhứt
thiết trí; thấy người phá giới, tâm nghĩ cứu giúp; các pháp ba la mật tưởng
là cha mẹ; các pháp đạo phẩm tưởng là quyến thuộc; làm việc lành không có
hạn lượng; đem các việc nghiêm sức ở các cõi Tịnh độ trau giồi cõi Phật của
mình; thật hành bố thí vô hạn; đầy đủ tướng tốt, trừ tất cả điều xấu, trong
sạch thân khẩu ý; nhiều số kiếp sanh tử mà lòng vẫn mạnh mẽ; nghe các Ðức
Phật quyết chí không mõi; dùng gươm trí tuệ phá giặc phiền não, ra khỏi ấm,
giới, nhập(5); gánh vác chúng sanh để được hoàn toàn giải thoát; dùng sức
đại tinh tấn phá dẹp quân ma; thường cầu vô niệm, thật tướng trí tuệ(6);
thật hành ít muốn, biết đủ mà chẳng bỏ việc đời; không sái oai nghi mà
thuận theo thế tục; khởi tuệ thần thông dắt dẫn chúng sanh; đặng niệm tổng
trì đã nghe không quên; khéo biết căn cơ dứt lòng nghi của chúng sanh, dùng
nhạo thuyết biện tài(7) diễn nói pháp vô ngại; thanh tịnh mười nghiệp lành
hưởng thọ phước trời người; tu bốn món vô lượng mở đường Phạm Thiên; khuyên
thỉnh nói pháp, tùy hỷ ngợi khen điều lành, đặng tiếng tốt của Phật, thân,
khẩu, ý trọn lành, đặng oai nghi của Phật; công phu tu tập pháp lành sâu
dày càng tiến nhiều lên; đem pháp Ðại thừa giáo hóa thành tựu Bồ Tát tăng,
lòng không buông lung, không mất các điều lành. Làm các pháp như thế gọi là
Bồ Tát không tận hữu vi.
Sao gọi là “không
trụ vô vi”? Nghĩa là tu học môn “không”; không lấy không làm chỗ chứng; tu
học môn “vô tướng”, “vô tác”, không lấy vô tướng, vô tác làm chỗ chứng; tu
học pháp “vô sanh” không lấy vô sanh làm chỗ chứng; quán “vô thường” mà
không nhàm việc lành; quán “thế gian là khổ” mà không ghét sanh tử; quán
“vô ngã” mà dạy dỗ người không nhàm mõi; quán “tịch diệt” mà không tịch
diệt hẳn; quán xa lìa mà thân tâm tu các pháp lành; quán không chỗ về mà về
theo pháp lành; quán vô sanh mà dùng pháp sanh để gánh vác tất cả; quán vô
lậu mà không đoạn các lậu; quán không chỗ làm mà dùng việc làm để giáo hóa
chúng sanh; quán Không Vô mà không bỏ đại bi; quán Chánh Pháp Vị(8) (chỗ
chứng) mà không theo Tiểu thừa; quán các pháp hư vọng, không bền chắc,
không nhân, không chủ, không tướng, bổn nguyện chưa mãn mà không bỏ phước
đức thiền định trí tuệ. Tu các pháp như thế gọi là Bồ Tát không trụ vô
vi.
Lại vì đủ các phước
đức mà không trụ vô vi; vì đủ cả trí tuệ mà không tận hữu vi; vì đại từ bi
mà không trụ vô vi; vì mãn bổn nguyện mà không tận hữu vi; vì nhóm thuốc
pháp mà không trụ vô vi; vì tùy bịnh cho thuốc mà không tận hữu vi; vì biết
bịnh chúng sanh mà không trụ vô vi; vì dứt trừ bịnh chúng sanh mà không tận
hữu vi. Các Bồ Tát chánh sĩ tu tập pháp này thời không tận hữu vi, không trụ
vô vi, đó gọi là pháp môn “tận, vô tận giải thoát”, các ông cần phải
học.
Bấy giờ các Bồ Tát
nước Chúng Hương nghe Phật nói pháp này rồi hết sức vui mừng, đem các thứ
hoa đủ màu sắc thơm tho rải khắp cõi tam thiên đại thiên cúng dường Phật và
kinh pháp này cùng các Bồ Tát, rồi cúi đầu lễ dưới chân Phật ngợi khen chưa
từng có, nói rằng : “Phật Thích Ca Mâu Ni mới có năng lực ở cõi này mà làm
được phương tiện”. Nói rồi bỗng nhiên biến trở về nước Chúng Hương.
Chú thích của phẩm
XI
1. Nhứt Sanh bổ xứ : Bồ Tát chứng bực Ðẳng giác rồi, chỉ còn một thời kỳ
nữa là bổ xứ thành Phật. Như Bồ Tát Di Lặc hiện còn ở cung Ðâu Suất một
thời kỳ nữa sẽ bổ xứ thành Phật độ sanh nơi cõi Ta Bà nầy vậy.
2. Tam miệu tam Phật
đà : Tàu dịch là Chánh biến giác. Trí liễu đạt thật tướng các pháp gọi là
“Chánh”; hiểu biết cùng khắp các pháp sai biệt gọi là “Biến”; ra khỏi mộng
sanh tử gọi là “Giác”.
3. Ða Ðà A Dà Ðộ :
Tàu dịch là Như Lai. Tự thể pháp thân chẳng động chẳng dời là Như. Trí
quang chiếu khắp, bi tâm độ sanh là Lai.
4. Phật đà : Tàu
dịch là Giác; Giác ngộ cứu cánh chân lý tuyệt đối
5. Ấm, giới, nhập :
5 ấm, 18 giới, 12 nhập.
6. Trí tuệ thật
tướng vô niệm : Trí tuệ chứng thật tướng, lìa tất cả vọng niệm.
7. Nhạo thuyết biện
tài : Ðã giải nơi phẩm III số 38.
8. Chánh pháp vị :
Quả vị chứng đắc đạo lý vô vi (Niết Bàn).
|
|
|
|
KINH DUY-MA-CẬT
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
* * * * *
XII. PHẨM THẤY PHẬT
A SÚC(1)
Bấy giờ Thế Tôn hỏi
ông Duy Ma Cật rằng :
- Ông muốn thấy Như Lai thì lấy chi quán sát ?
Ông Duy Ma Cật thưa
:
- Như con quán thật tướng của thân, quán Phật cũng thế. Con quán Như Lai
đời trước không đến, đời sau không đi, hiện tại không ở; không quán sắc,
không quán sắc như, không quán sắc tánh; không quán thọ, tưởng, hành, thức,
không quán thức như, không quán thức tánh; không phải tứ đại sinh, cũng như
hư không; sáu nhập không tích tập, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm đã vượt
qua; không ở ba cõi đã lìa ba cấu(2); thuận ba môn giải thoát; có đủ ba
minh(3), cùng ngang vô minh, không một tướng, không khác tướng, không có tự
tướng, không có tha tướng, không phải không tướng, không phải chấp tướng;
không bờ bên này, không bờ bên kia, không giữa giòng mà hóa độ chúng sanh;
quán tịch diệt cũng không diệt hẳn; không đây, không kia, không nương nơi
đây, không nương nơi kia; không thể dùng trí mà hiểu được, không thể dùng
thức mà biết được; không tối không sáng; không danh không tướng; không mạnh
không yếu; không phải sạch, không phải nhơ; không ở phương sở, không lìa
phương sở; không phải hữu vi, không phải vô vi; không bày không nói; không
bố thí, không bỏn sẻn; không giữ giới, không phạm giới; không nhẫn, không
giận; không tinh tấn, không giải đãi; không định, không loạn; không trí
không ngu; không thật không dối; không đến không đi; không ra không vào;
bặt đường nói năng; không phải phước điền(4), không phải không phước điền;
không phải xứng cúng dường(5), không phải không xứng cúng dường; không phải
thủ, không phải xả; không phải có tướng, không phải không tướng; đồng với
chơn tế(6), bình đẳng như pháp tánh; không thể cân, không thể lường, quá
các sự cân lường, không lớn không nhỏ; không phải thấy, không phải nghe;
không phải giác, không phải tri; lìa các kiết phược, bình đẳng các trí,
đồng với chúng sanh; đối các pháp không phân biệt; tất cả không tổn thất,
không trược không não, không tác không khởi, không sanh không diệt, không
sợ không lo, không mừng không chán, không đã có, không sẽ có, không hiện
có, không thể lấy tất cả lời nói phân biệt chỉ bày được, – Bạch Thế Tôn !
Thân Như Lai như thế, con quán cũng thế, nếu ngươi nào quán theo đây gọi là
chánh quán, quán khác gọi là tà quán.
Lúc ấy ông Xá Lợi
Phất hỏi ông Duy Ma Cật rằng :
- Ông ở đâu chết rồi sinh nơi đây ?
Ông Duy Ma Cật nói
:
- Pháp của Ngài chứng đặng có chết rồi sinh không ?
Ông Xá Lợi Phất nói
:
- Không chết không sinh.
- Nếu các pháp không
có tướng chết rồi sinh, tại sao Ngài lại hỏi : ông ở đâu chết rồi sinh nơi
đây ? - Ý Ngài nghĩ sao ? Ví như hình nam nữ của nhà huyễn thuật hóa ra có
chết rồi sinh không ?
Ông Xá Lợi Phất nói
:
- Không có chết rồi sinh.
- Ngài không nghe
Phật nói các pháp tướng như huyễn đó sao ?
- Có nghe thế.
- Nếu các pháp tướng
như huyễn thời tại sao Ngài hỏi rằng : ông ở đâu chết rồi sinh nơi đây ?
Ngài Xá Lợi Phất ! Chết là cái tướng hoại bại của pháp hư dối, sinh là
tướng tương tục của pháp hư dối, Bồ Tát dù chết không dứt mất gốc lành, dầu
sống không thêm các điều ác.
Bấy giờ Phật bảo ông
Xá Lợi Phất :
- Có cõi nước tên là Diệu Hỷ, Phật hiệu là Vô Ðộng, ông Duy Ma Cật này ở
nước đó chết rồi sinh nơi đây.
Ông Xá Lợi Phất thưa
:
- Chưa từng có vậy, Bạch Thế Tôn ? Ngươi này chịu bỏ cõi thanh tịnh mà
thích đến chỗ nhiều oán hại !
Ông Duy Ma Cật nói
với ông Xá Lợi Phất rằng :
- Ý Ngài nghĩ sao ? Lúc ánh sáng mặt trời chiếu lên có hiệp với tối không
?
- Không, ánh sáng
mặt trời khi mọc lên thì không còn tối nữa.
Ông Duy Ma Cật
hỏi:
- Mặt trời tại sao lại đi qua cõi Diêm Phù Ðề ?
- Muốn đem ánh sáng
soi chiếu sự tối tăm cho cõi Diêm Phũ Ðề.
Ông Duy Ma Cật nói
:
- Bồ Tát cũng thế, dù sanh cõi Phật bất tịnh cốt để hóa độ chúng sanh, chớ
không có chung hiệp với kẻ ngu tối, cốt dứt trừ phiền não đen tối của chúng
sanh mà thôi. Bấy giờ cả đại chúng khao khát ngưỡng mong muốn thấy cõi nước
Diệu Hỷ, đức Vô Ðộng Như Lai và các hàng Bồ Tát, Thanh Văn kia.
Phật biết tâm niệm
của chúng hội liền bảo ông Duy Ma Cật rằng :
- Xin hiện cõi nước Diệu Hỷ, đức Vô Ðộng Như Lai và các hàng Bồ Tát, Thanh
Văn cho chúng hội xem, đại chúng ai cũng đang ngưỡng mộ.
Lúc ấy ông Duy Ma
Cật tâm nghĩ rằng : “Ta sẽ không rời chỗ ngồi mà tiếp lấy cõi nước Diệu Hỷ,
núi, sông, khe, hang, ao hồ, biển lớn, nguồn suối, các núi Thiết vi, Tu di,
và nhựt nguyệt, tinh tú, các cung điện của Thiên, Long, quỉ thần, Phạm
Thiên cùng các hàng Bồ Tát, Thanh Văn, thành ấp, tụ lạc, trai gái lớn nhỏ,
cho đến Vô Ðộng Như Lai và cây Bồ Ðề, hoa sen quí có thể làm Phật sự trong
mười phương, ba đường thềm báu từ cõi Diêm Phù Ðề đến cõi trời Ðạo Lợi, do
thềm báu này chư Thiên đi xuống để làm lễ cung kính đức Vô Ðộng Như Lai và
nghe thọ kinh pháp; người ở cõi Diêm Phù Ðề cũng lên thềm báu đó mà đi lên
cõi trời Ðạo Lợi để ra mắt chư Thiên kia. Cõi nước Diệu Hỷ thành tựu công
đức vô lượng như thế, trên đến trời Sắc Cứu Cánh, dưới đến thủy tế, dùng
tay bên hữu chấn lấy rất nhanh như cái bàn tròn của người thọ gốm, rối đem
về cõi Ta bà này cũng như đặng cái tràng hoa, để đưa cho đại chúng xem”.
Ông suy nghĩ như vậy rồi liền nhập tam muội (chánh định) hiện sức thần
thông lấy tay bên hữu chấn lấy cõi nước Diệu Hỷ để vào cõi Ta bà này. Các
Bồ Tát và chúng Thanh Văn cùng các Thiên, nhơn có thần thông đều cất tiếng
thưa rằng :
- Dạ ! Bạch Thế Tôn
! Ai đem con đi, xin Thế Tôn cứu hộ cho.
Phật Bất Ðộng nói
:
- Không phải Ta làm, đó là thần lực của ông Duy Ma Cật làm như thế.
Ngoài ra những người
chưa có thần thông không hay không biết mình đi đâu. Cõi nước Diệu Hỷ dù
vào cõi Ta bà này mà không thêm không bớt, còn cõi Ta bà này cũng không
chật hẹp, vẫn y nguyên như trước.
Bấy giờ Phật Thích
Ca Mâu Ni bảo đại chúng rằng :
- Các ông hãy xem cõi nước Diệu Hỷ, Phật Vô Ðộng Như Lai, nước đó trang
nghiêm tốt đẹp, chúng Bồ Tát hạnh thanh tịnh, hàng đệ tử toàn trong
sạch.
Ðại chúng thưa rằng
:
- Dạ ! Ðã thấy.
Phật bảo :
- Các Bồ Tát nếu muốn được cõi Phật thanh tịnh như thế, cần phải học cái
đạo của đức Vô Ðộng Như Lai đã làm.
Khi hiện ra cõi nước
Diệu Hỷ này, cõi Ta bà có 14 na-do-tha(7) người phát tâm Vô Thượng Chánh
Ðẳng Chánh Giác, đều nguyện sanh sang cõi nước Diệu Hỷ. Phật Thích Ca Mâu
Ni liền thọ ký cho rằng :
- Sẽ đặng sanh sang nước đó.
Bấy giờ nước Diệu Hỷ
ở nơi cõi Ta bà này làm những việc lợi ích xong, liền trở về bổn xứ, cả đại
chúng đều thấy rõ.
Phật bảo ông Xá Lợi
Phất :
- Ông có thấy cõi nước Diệu Hỷ và đức Phật Vô Ðộng đấy chăng ?
- Dạ, bạch đã thấy.
Bạch Thế Tôn ! Nguyện tất cả chúng sanh được cõi thanh tịnh như Ðức Phật Vô
Ðộng và thần thông như ông Duy Ma Cật.
Bạch Thế Tôn ! Chúng con được nhiều lợi lành, được thấy người này (Duy Ma
Cật) gần gũi cúng dường. Còn những chúng sanh hoặc hiện tại đây, hoặc sau
khi Phật diệt độ mà nghe kinh này cũng được lợi lành, huống lại nghe rồi
tin hiểu, thọ trì, đọc tụng giải nói, đúng như pháp tu hành. Nếu có người
tay cầm được kinh điển này thì đã được kho tàng Pháp bảo. Nếu có người đọc
tụng giải thích nghĩa lý kinh này, đúng như lời nói tu hành thời được chư
Phật hộ niệm. Nếu có ai cúng dường người như thế, tức là cúng dường chư
Phật. Nếu có người nào biên chép thọ trì kinh này, chính là trong nhà người
đó có Như Lai. Nếu người nghe kinh này mà tùy hỷ thời người đó sẽ được đến
bực “Nhứt thiết trí”. Nếu người tin hiểu kinh này cho đến một bài kệ bốn
câu rồi giải nói cho người khác nghe, phải biết người đó được thọ ký quả Vô
Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Chú thích của phẩm
XII
1. A Súc Phật : Tàu
dịch là Bất Ðộng. Phật Bất Ðộng nghĩa là Pháp thân chẳng sanh, chẳng diệt,
không tới không lui. Như nói “Không” chẳng phải thuộc “ngoan không”, như
nói “Có” cũng chẳng phải sắc tướng, ở nơi Chánh Giác chẳng tăng thêm, ở nơi
vô minh cũng chẳng kém thiếu, vắng lặng thường còn, không hề động chuyển,
nên gọi là “Bất Ðộng”.
2. Ba cấu : Cũng gọi
là ba độc : Tham, sân-si, phiền não nhiễm ô trong 3 cõi.
3. Ba môn giải thoát
- Ba Minh : Ðã giải nơi phẩm IV số 24 và phẩm II số 25.
4. Phước điền :
Ruộng phước : Ruộng có nghĩa là sanh trưởng. Ðối các bậc đáng cúng dường mà
cúng dường cung kính, thì sẽ hưởng được nhiều phước báu, cũng như người
nông phu cấy lúa nơi ruộng mẫu, sẽ đưọc cái lợi thu gặt ở mùa thu. Cho nên
hai chữ Phước điền là chỉ cho các bậc đáng cúng dường làm chỗ cho chúng
sanh gieo trồng quả phước.
5. Xưng cúng dường :
Bực đầy đủ phước huệ, dứt hết mê lầm tội lỗi, xa khỏi tất cả khổ lụy, đáng
thọ sự cúng dường của tất cả phàm thánh.
6. Chơn tế : Chân lý
chắc thật, thể tánh của các pháp.
7. Na-do-tha : Tàu
dịch là ức, tức là 100 vạn
|
|
|
|
KINH DUY-MA-CẬT
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
* * * * *
XIII. PHẨM PHÁP CÚNG DƯỜNG (1)
Bấy giờ, Thích Đề
Hoàn Nhơn (2) ở trong chúng bạch Phật rằng:
- Bạch Thế Tôn! Con
dù theo Phật và Ngài Văn Thù Sư Lợi nghe nói trăm nghìn thứ kinh mà chưa
từng nghe kinh điển "Bất khả tư nghị tự tại thần thông quyết định thật
tướng". Như con hiểu nghĩa lý của Phật nói, nếu có chúng sinh nào nghe
kinh pháp này mà tin hiểu, thọ, trì đọc, tụng thì quyết được pháp này không
nghi, huống chi đúng như lời nói mà tu hành, thời người đó ngăn biết các
nẽo ác, mở cửa lành, thường được chư Phật hộ niệm, hàng phục ngoại đạo, dẹp
trừ ma oán, tu đạo Bồ Đề, an ở nơi đạo tràng, noi theo dấu vết thật hành
của Như Lai.
Bạch Thế Tôn! Nếu có
người thọ trì đọc tụng, đúng như lời nói tu hành, con sẽ cùng các quyến
thuộc cúng dường hầu hạ. Ở nơi tụ lạc, thành ấp, núi rừng, đồng nội, chỗ
nào có kinh này, con sẽ cùng các quyến thuộc đồng đến chỗ đó nghe thọ kinh
pháp. Những người chưa tin, sẽ làm cho họ sanh lòng tin, người đã tin rồi
chúng con sẽ ủng hộ.
Phật nói:
- Hay thay! Hay
thay! Thiên đế! Như lời ông nói, ta sẽ giúp cho ông được vui thêm. Kinh này
rộng nói đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác bất khả tư nghị của chư Phật
quá khứ, hiện tại và vị lai. Vì thế Thiên Đế! Nếu có gã thiện nam, người
thiện nữ thọ trì, đọc tụng, cúng dường kinh pháp này, thời chính là cúng
dường Chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai vậy - Thiên đế! Giả sử có các
Như Lai đầy khắp cõi tam thiên đại thiên như mía, tre, lau, lúa, mè, rừng
bụi, nếu có gã thiện nam, người thiện nữ nào hoặc một kiếp hoặc không đầy
một kiếp cung kính tôn trọng, ngợi khen cúng dường, dưng các món cần dùng
cho đến sau khi các đức Phật diệt độ, đem xá lợi toàn thân của mỗi Phật
dựng tháp bảy báu, ngang rộng bằng cõi tứ thiên hạ, cao đến trời Phạm
thiên, bảo tháp trang nghiêm rực rỡ, dùng tất cả hoa, hương, anh lạc, tràng
phan, kỹ nhạc tốt đẹp bực nhứt, hoặc một kiếp, hoặc ít hơn một kiếp, mà
cúng dường. Thiên Đế! Ý ông nghĩ sao, người đó làm việc phước có nhiều
chăng?
Thích Đề Hoàn Nhơn
thưa:
- Bạch Thế Tôn! Rất
nhiều, phước đức của người đó dẫu cho trăm nghìn ức kiếp nói mãi cũng không
hết được.
Phật bảo Thiên Đế:
- Phải biết gã thiện
nam, thiện nữ đó nghe kinh điển "Bất khả tư nghị giải thoát" này
tin hiểu thọ trì đọc tụng tu hành thì phước đức hơn người làm việc cúng
dường kia. Vì sao? - Quả Bồ Đề của chư Phật đều từ kinh này sanh ra, tướng
Bồ Đề không có hạn lượng, do nhân duyên đó nên phước đức cũng không có hạn
lượng.
Phật bảo Thiên Đế:
- Về quá khứ vô
lượng a tăng kỳ kiếp, lúc ấy ở đời có Phật hiệu là Dược Vương Như Lai (3)
Ứng cúng (4), Chánh biến tri (5), Minh hành túc (6), Thiện thệ (7), Thế
gian giải (8), Vô thượng sĩ (9), Điều ngự trượng phu (10), Thiên nhơn sư
(11), Phật (12) Thế Tôn. Cõi nước tên Đại Trang Nghiêm, kiếp tên là Trang
Nghiêm. Phật sống lâu 20 tiểu kiếp (13), chúng Thanh Văn tăng có 36 ức na
do tha, chúng Bồ Tát tăng có 12 ức. Thiên Đế! Lúc đó, có vị Chuyển Luân
Thánh Vương tên là Bảo Cái đầy đủ bảy báu, cai trị cả bốn thiên hạ. Vua có
một nghìn người con tốt đẹp mạnh mẽ, hay dẹp trừ các kẻ oán địch.
Lúc đó, Vua Bảo Cái
cùng quyến thuộc cúng dường Dược Vương Như Lai, dưng cúng các đồ cần dùng
đến mãn năm kiếp. Qua năm kiếp rồi, vua bảo nghìn người con rằng:
- Các ngươi cũng
phải đem thâm tâm cúng dường Phật như ta vậy.
Khi đó nghìn người
con đều vâng mạng lịnh của vua cha cúng dường Dược Vương Như Lai, dưng cúng
tất cả đồ cần dùng cũng mãn năm kiếp. Có một người con của vua tên là
Nguyệt Cái ngồi một mình suy nghĩ rằng: có việc cúng dường nào thù thắng
hơn việc cúng dường này chăng?
Do sức oai thần của
Phật, ở giữa hư không có vị Trời nói rằng:
- Thiện nam tử! Pháp
cúng dường là hơn hết các việc cúng dường.
Nguyệt Cái liền hỏi:
- Sao gọi là pháp
cúng dường?
Vị trời đáp:
- Ông đến hỏi đức
Dược Vương Như Lai sẽ nói rõ thế nào là pháp cúng dường.
Tức thì Nguyệt Cái
vương tử đi đến chỗ Dược Vương Như Lai cúi đầu lễ dưới chơn Phật, đứng qua
một bên bạch Phật rằng:
- Bạch Thế Tôn!
Trong việc cúng dường, pháp cúng dường là hơn hết - Thế nào gọi là pháp
cúng dường?
Phật dạy rằng:
- Thiện nam tử! Pháp
cúng dường là kinh thâm diệu của chư Phật nói ra, tất cả trong đời khó tin
khó nhận, nhiệm mầu khó thấy, thanh tịnh không nhiễm, không phải lấy suy
nghĩ phân biệt mà biết được. Kinh này nhiếp về pháp tạng của Bồ Tát, ấn đà
la ni (14) ấn đó, cho đến bất thối chuyển, thành tựu sáu độ, khéo phân biệt
các nghĩa, thuận pháp Bồ Đề, trên hết các kinh, vào đại từ bi, lìa các việc
ma và các tà kiến, thuận pháp nhân duyên, không ngã, không nhơn, không
chúng sanh, không thọ mạng, không vô tướng, vô tác, vô khởi, làm cho chúng
sanh ngồi nơi đạo tràng mà chuyển pháp luân, chư Thiên, Long thần, Càn thát
bà thảy đều ngợi khen, đưa chúng sanh vào pháp tạng của Phật, nhiếp tất cả
trí tuệ của Hiền Thánh, diễn nói cách tu hành của Bồ Tát, nương theo nghĩa
thật tướng của các pháp, tuyên bày các pháp vô thường, khổ, không, vô ngã,
tịch diệt, cứu độ chúng sanh hủy phá giới cấm, làm cho tà ma ngoại đạo và
người tham lam chấp trước đều sợ sệt, chư Phật, Hiền Thánh đều ngợi khen,
trái cái khổ sanh tử, chỉ cái vui Niết bàn, chư Phật ba đời ở trong 10
phương đều nói ra, nếu người nghe những kinh như thế mà tin hiểu, thọ trì,
đọc tụng, dùng sức phương tiện phân biệt giải nói, chỉ bày rành rẽ cho
chúng sanh, giữ gìn chánh pháp đó gọi là pháp cúng dường.
Lại theo các pháp đúng
như lời nói tu hành, tùy thuận 12 nhơn duyên, lìa tà kiến, được vô sanh
nhẫn, quyết định không có ngã, không có chúng sanh mà đối với quả báo nhơn
duyên không trái không cãi, lìa các ngã sở, y theo nghĩa không y theo lời,
y theo trí không y theo thức, y theo kinh liễu nghĩa không y theo kinh
không liễu nghĩa, y theo pháp không y theo người, thuận theo pháp tướng,
không chỗ vào, không chỗ về, "vô minh" diệt hết thời
"hành" cũng diệt hết, cho đến "sanh" diệt hết thời
"lão tử" cũng diệt hết, quán như thế thì 12 nhơn duyên không có
tướng diệt (hết), không có tướng khởi (sanh), đó gọi là pháp cúng dường hơn
hết.
Phật bảo Thiên Đế:
- Vương tử Nguyệt
Cái theo Phật Dược Vương nghe pháp như thế rồi được pháp "nhu thuận
nhẫn" (15), liền cỡi y báu và đồ trang sức nơi thân cúng dường Phật và
bạch rằng:
- Bạch Thế Tôn! Sau
khi Như Lai diệt độ con sẽ thật hành pháp cúng dường để gìn giữ chánh pháp,
nguyện nhờ oai thần của Như Lai thương xót gia hộ cho con được hàng phục ma
oán tu hạnh Bồ Tát.
Phật biết trong tâm
niệm của ông mà thọ ký rằng: "Về đời sau này ông giữ gìn thành trì
chánh pháp".
Nầy Thiên Đế! Vương
tử Nguyệt Cái lúc đó thấy được pháp thanh tịnh (kiến đạo vị) nghe Phật thọ
ký đem lòng chánh tín xuất gia tu tập các pháp lành, tinh tấn không bao lâu
chứng ngũ thông, đủ đạo hạnh Bồ Tát, được môn đà la ni, biện tài vô ngại.
Sau khi Phật diệt độ, ông dùng sức thần thông, tổng trì biện tài đã chứng
được y theo pháp của Dược Vương Như Lai đã nói mà ban bố ra mãn 10 tiểu
kiếp.
Tỳ kheo Nguyệt Cái
giữ gìn Phật pháp, siêng tu tinh tấn ngay đời đó hóa độ được trăm muôn ức
người ở nơi đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác không còn thối lui, 14 na
do tha người phát hẳn tâm Thanh Văn, Duyên Giác và vô lượng chúng sanh được
sanh về cõi Trời.
Thiên Đế! Vua Bảo
Cái lúc ấy đâu phải người nào khác, hiện nay thành Phật hiệu là Bảo Diệm
Như Lai, còn một nghìn người con của vua, chính là một nghìn vị Phật trong
đời Hiền kiếp, mà đức Ca La Cưu Tôn Đà thành Phật trước hết, đến vị Phật
thành rốt sau hiệu là Lầu Chí, còn Nguyệt Cái Tỳ kheo chính là thân Ta đây
(tức là Phật Thích Ca vị thứ tư trong đời Hiền kiếp).
Như thế, Thiên Đế!
Phải biết cái yếu điểm pháp cúng dườnglà hơn hết trong việc cúng dường, bực
nhứt không chi sánh kịp.
Này Thiên Đế! Phải
lấy pháp cúng dườngmà cúng dướng các đức Phật.
1. - Pháp cúng
dường: Cúng dường có 2 thứ: 1. Tài cúng dường. 2. Pháp cúng dường.
Tất cả trăm ngàn pháp môn của Phật nói ra, nếu chúng sanh nào tùy nghe tin
hiểu mà thật hành theo, trưởng dưỡng pháp thân giữ gìn chánh pháp, nối
thạnh ngôi Tam bảo gọi là Pháp cúng dường.
Trong kinh Hoa
Nghiêm nói: "Trong các cách cúng dường chư Phật, Pháp cúng dường là
hơn tất cả. Pháp cúng dường nghĩa là cúng dường bằng cách hành động như lời
Phật dạy; bằng cách lợi ích tất cả chúng sanh; nhiếp hóa chúng sanh; chịu
thay thế hết thảy đau khổ cho chúng sanh; siêng tu thiện căn; không rời sự
nghiệp Bồ Tát, không bỏ tâm Bồ đề rộng lớn. Thật hành cúng dường như thế,
mới là chân thật cúng dường.
2.- Thích Đề
Hoàn Nhơn: (Sakra devanamludra) Tàu dịch là Năng Thiên Chủ; tên của
trời Đế Thích.
Nguyên kiếp trước
ông gặp đức Phật Ca Diếp nhập diệt, phát tâm tạo tháp cúng dường, nhờ nhơn
duyên ấy, nên sau ông được phước báu làm chủ cõi trời Đao Lợi.
@ = 3.- Như
Lai: Tự thể Tháp thân chẳng động chẳng dời là "Như". Trí
quang chiếu khắp bi tâm độ sanh là "Lai". Toàn thể như như bất
động, tùy duyên đến hóa độ trong muôn loài, đến trong muôn loài, mà vẫn như
như bất động nên gọi là Như Lai.
4.- Ứng cúng:
Đức Phật đã viên thành tất cả công đức, đầy đủ tất cả phước huệ, xa lìa tất
cả mê lầm khổ lụy, làm phước điền cho tất cả Phàm, Thánh theo gieo trồng
thiện căn công đức, nên có thể ứng đến thọ sự cúng dường của tất cả.
5.- Chánh biến
tri: Trí Phật thấu biết tất cả hoàn toàn như thật.
6.- Minh hạnh
túc: Trí minh, công hạnh đầy đủ.
7.- Thiện thệ:
Hay khéo ra khỏi thế gian, chứng thành quả Phật, hằng đến trong thế gian độ
sanh, hẳn không bị thế gian làm nhiễm ô.
8. -Thế gian
giải: Rõ suốt tất cả pháp của thế gian và xuất thế gian.
9.- Vô thượng
sĩ: Đấng cao thượng không còn ai trên.
10.- Điều ngự
trượng phu: Đấng đầy đủ đức tướng tài năng hay điều hòa những chúng
sanh nhu thuận và ngự phục những chúng sanh cang cường.
11.- Thiên
nhơn sư: Đấng Đạo Sư của tất cả trời, người.
12.- Phật:
Là nói tắt danh từ Phật Đà, tàu dịch là Giác Giả, nghĩa là đấng giác ngộ
hoàn toàn. Đức Phật đủ 10 đức hiệu ở trên, là đấng tôn quý cao thượng nhất
trong thế gian và xuất thế gian, nên gọi là "Thế Tôn".
13. - Tiểu
kiếp: Một kiếp nhỏ trong kiếp lớn, có 16.800.000 năm.
14. - Ấn Đà La
Ni: Ấn của pháp Nhẫn Đà La Ni trong 4 món Đà La Ni, Nhẫn Đà La Ni
là an trú nơi thật tướng các pháp. Ý nói dùng ấn thật tướng mà ấn định các
thâm kinh Đại thừa.
15.- Nhu thuận
nhẫn: Tâm trí nhu thuận, tin nhận, không chống trái với lý thật
tướng, nhưng chưa được chứng nhập, gọi là Nhu thuận nhẫn
|
|
|
|
KINH DUY-MA-CẬT
Đời Diêu Tần, ngài Tam tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
vưng chiếu dịch ra chữ Trung Hoa
Dịch giả: Thích Huệ Hưng
* * * * *
XIV. PHẨM CHÚC LỤY (1)
Bấy giờ Phật bảo Bồ
Tát Di Lặc rằng:
- Này Di Lặc! Ta nay
đem pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác đã chứa nhóm vô lượng ức a tăng kỳ
kiếp mà phú chúc cho ông. Những thứ kinh như thế, sau khi Phật diệt độ về
đời mạt kiếp các ông phải dùng thần lực diễn nói lưu bố khắp cõi Diêm Phù
Đề chớ để dứt mất. Vì sao? Về đời vị lai sẽ có những gã thiện nam,thiện nữ
và Thiên, Long, Quỉ thần, Càn thát bà, La sát v.v... phát tâm Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác ưa pháp Đại thừa, nếu không cho họ nghe những kinh
như thế thời mất lợi lành. Hạng người như thế nghe những kinh đó tất ưa
thích tin chịu phát tâm hyhữu sẽ đảnh lễ vưngthọ, rồi theo chỗ cần lợi lạc
cho chúng sanh mà diễn nói pháp.
Di Lặc! Ông phải
biết, Bồ Tát có hai tướng. Sao gọi là hai? 1- Ưa những câu văn hay đẹp, 2-
Không sợ nghĩa sâu xa, hiểu được đúng như thật. Như hạng ưa về những câu
văn hay đẹp, phải biết đó là Bồ Tát mới học. Nếu ở nơi kinh điển thậm thâm
không nhiễm, không trước (2), không có chút sợ sệt và hiểu rõ được đó, nghe
rồi tâm thanh tịnh thọ trì, đọc tụng đúng như lời nói mà tu hành, phải biết
đó là hạng tu hành đã lâu.
Di Lặc này! Lại có
hai pháp gọi là Bồ Tát mới học không thể quyết định pháp thậm thâm.
Hai pháp là chi? 1-
Những kinh điển thậm thâm chưa từng nghe nếu nghe thời sợ sệt sanh lòng
nghi, không tùy thuận được, chê bai không tin rồi nói rằng: "Kinh này
từ trước đến giờ ta chưa từng nghe, từ đâu đến đây?", 2- Nếu có người
hộ trì giải nói những kinh sâu xa như thế, không chịu gần gũi cúng dường
cung kính, hoặc ở nơi đó nói lỗi xấu của người kia. Có hai pháp đấy, phải
biết Bồ Tát mới học chỉ là tự tổn hại chớ không thể ở nơi pháp thậm thâm mà
điều phục được tâm mình.
Di Lặc! Lại có hai
pháp, Bồ Tát dầu tin hiểu thâm pháp, vẫn còn tự tổn hại chớ không thể chứng
được vô sanh pháp nhẫn. Hai pháp là chi? 1- Kkinh dễ các Bồ Tát mới học mà
không dạy bảo, 2- Dù tin hiểu thâm pháp mà lại chấp tướng phân biệt.
Bồ Tát Di Lặc nghe
Phật nói như thế rồi, bạch Phật rằng:
- Bạch Thế Tôn! Thật
chưa từng có! Như lời Thế Tôn đã nói, con quyết xa lìa các lỗi như thế, xin
vưng giữ pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác đã chứa nhóm từ vô lượng a
tăng kỳ kiếp của Như Lai. Nếu vị lai có gã thiện nam, tín nữ nào cầu pháp
Đại thừa, con sẽ làm cho tay người đó được những kinh như thế và cho họ cái
sức ghi nhớ để thọ trì đọc tụng, diễn nói cho người - Bạch Thế Tôn! Nếu đời
sau có người thọ trì đọc, tụng diễn nói kinh này cho người khác, đó chính
là thần lực của Di Lặc lập nên.
Phật nói:
- Hay thay! Hay
thay! Di Lặc này! Như lời ông nói, ta sẽ giúp cho ông vui thêm.
Bấy giờ các Bồ Tát
chấp tay bạch Phật rằng:
- Sau khi Như Lai
diệt độ, chúng con cũng ở các cõi nước trong 10 phương, truyền bá cùng khắp
pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và sẽ dẫn dắt những người nói pháp
được kinh này.
Lúc đó bốn vị Thiên
Vương bạch Phật rằng:
- Ở các chỗ hoặc thành
ấp, tụ lạc, núi rừng, đồng nội có quyển kinh này, có người đọc tụng, giải
nói, con sẽ đem các quyến thuộc đi đến chỗ đó để nghe pháp, ủng hộ cho
người đó mỗi phía trăm do tuần, không để người cố ý tìm làm hại.
Bấy giờ Phật bảo A
Nan rằng:
- Ông hãy thọ trì
lấy kinh này, rộng nói khắp truyền cho đời sau.
A Nan thưa:
- Dạ! Con đã thọ trì
rồi. Bạch Thế Tôn! Kinh này tên là gì?
Phật bảo A nan:
- Kinh này tên là
"Duy Ma Cật Sở Thuyết" cũng gọi là "Bất Khả Tư nghị Giải
Thoát Pháp Môn", ông nên thọ trì.
Phật nói kinh này
rồi, Trưởng giả Duy Ma Cật, Văn Thù Sư Lợi, Xá Lợi Phất, A Nan v.v... và
các hàng Trời, Người, A tu la, tất cả đại chúng nghe lời Phật nói đều rất
vui mừng tin nhận kính vâng làm theo.
1.- Chúc lụy:
Chúc là phú chúc; Lụy là nhọc nhằn gánh vác. Nghĩa là đức Phật đem pháp bảo
phú chúc (dặn bảo) cho hàng đệ tử gánh vác lưu truyền đời sau. Cũng như ông
Phú Trưởng Giả đem tài sản sự nghiệp dặn bảo giao phó lại cho con gánh vác
giữ gìn không để tản mất.
2. -Không
nhiễm trước: Không có niệm đắm nhiễm chấp trước. Ý nói kinh này
diễn bày Tôn chỉ thanh tịnh giải thoát.
Chân thành cảm ơn đạo hữu Mỹ Hồ đã đánh máy gửi tặng Thư Viện Hoa Sen
phiến bản vi tính quyển kinh này. (Tâm Diệu)
|
|